Thời sự - Chính trị

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đại tướng Lê Văn Dũng trưởng thành trong chiến đấu, nghĩa tình bền sâu

Năm 1964-1965, tôi và anh Bảy Dũng (PV-tên thường gọi thân mật của Đại tướng Lê Văn Dũng) là những chiến sĩ trẻ người miền Nam, cùng tham gia chiến đấu ở trung đoàn chủ lực miền, Sư đoàn 9, Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam thuộc Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Anh Bảy quê ở Bến Tre lúc đó thuộc Trung đoàn 1. Tôi quê ở Hậu Giang ở Trung đoàn 3. Đơn vị đóng quân tại chiến khu Đ, vùng căn cứ kháng chiến “đầu não” quan trọng của cách mạng miền Nam nằm sâu trong rừng già Đồng Nai, nơi bom đạn của kẻ thù giội xuống gần như không ngơi nghỉ.

Những năm tháng sau đó, khi Mỹ và tay sai leo thang chiến tranh, các đơn vị thuộc Sư đoàn 9 buộc phải cơ động liên tục, rút dần về các căn cứ khu vực Bộ chỉ huy Miền thuộc địa bàn Bình Dương, Bình Phước. Giai đoạn ấy, khi còn là chiến sĩ, anh Bảy đã "nổi tiếng" ở sự mưu trí, dũng cảm, cùng đồng đội lập không ít chiến công trong nhiều trận đánh lớn ở Đất Cuốc, Lộc Ninh, Bàu Bàng và được tặng huy hiệu “Chiến sĩ Ấp Bắc” và danh hiệu “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”.

Anh trưởng thành dần qua các cương vị chỉ huy ở cấp trung đoàn, sư đoàn, tôi thường xuyên gặp anh trong các hội nghị. Ở đâu, anh cũng giữ được phong thái gần gũi, cởi mở, không bao giờ tạo khoảng cách giữa người chỉ huy với cán bộ, chiến sĩ. Mỗi lần hội họp hay sinh hoạt chung, anh Bảy bao giờ cũng nói rất thẳng thắn, không vòng vo. Anh nói điều gì là suy nghĩ điều đó và đã nói thì sẵn sàng chịu trách nhiệm đến cùng. Chính phong cách ấy của anh khiến đồng đội rất nể trọng và tin tưởng.

Đại tướng Lê Văn Dũng trưởng thành trong chiến đấu, nghĩa tình bền sâu
Thượng tướng Lê Văn Dũng, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đến thăm, kiểm tra cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 7 giúp Nhân dân dựng lại nhà sau cơn bão số 9 (Durian), năm 2006.

 

Chúng tôi cùng Sư đoàn 9 đi trọn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên cương vị Chính ủy Trung đoàn 1, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 (nay là Quân đoàn 34), anh Bảy cùng tập thể Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn chỉ huy đơn vị lập nhiều chiến công, góp phần quan trọng vào thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Giai đoạn sau năm 1975, chúng tôi ít có dịp gặp nhau vì đơn vị tham gia những nhiệm vụ riêng trong giai đoạn thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia. Trong những năm tháng làm nhiệm vụ trên đất bạn, anh Bảy vẫn vậy, quyết đoán trong chỉ huy, nhưng luôn thấm đẫm tinh thần nhân văn, tôn trọng nhân dân Campuchia, chăm lo đời sống và an toàn cho bộ đội.

Đến năm 1995, tôi và anh Bảy lại có thời gian công tác gần nhau khi anh giữ chức vụ Tư lệnh Quân khu 7, còn tôi là Phó tư lệnh Chính trị Quân khu. Đất nước đã hòa bình, nhưng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đặt ra nhiều yêu cầu phức tạp, nhất là trên địa bàn chiến lược phía Nam. Những năm tháng này, tôi có điều kiện hiểu sâu sắc hơn về tầm vóc và nhân cách của anh Bảy Dũng. Anh đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện đời sống bộ đội, từ bữa ăn, chỗ ở đến điều kiện huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên, anh luôn giữ nguyên tắc rất cao trong công việc. Với anh, đã nói là làm, đã quyết là quyết cho đến nơi đến chốn. Anh không thích hình thức, không phô trương, không màu mè, nhưng luôn suy nghĩ thấu đáo, lo xa cho đơn vị và cho toàn địa bàn Quân khu.

Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, anh Bảy thường chủ động trao đổi, tham vấn ý kiến của tôi và các đồng chí trong Ban Thường vụ trước khi đưa ra những quyết định quan trọng. Có những vấn đề chúng tôi tranh luận khá gay gắt để tìm ra phương án tốt nhất. Không phải lúc nào ý kiến của tôi cũng trùng với ý kiến của anh. Nhưng điều khiến tôi kính trọng là anh luôn lắng nghe, tôn trọng sự khác biệt và cuối cùng đưa ra quyết định dựa trên lợi ích chung, hiệu quả thực tiễn chứ không phải vì cái tôi cá nhân.

Giai đoạn đó, trên địa bàn Quân khu 7 nảy sinh không ít vấn đề phức tạp, cả về quốc phòng, an ninh lẫn kinh tế-xã hội. Anh Bảy cùng Ban Thường vụ Đảng ủy Quân khu xử lý các tình huống bằng sự tỉnh táo, linh hoạt nhưng rất quyết đoán. Anh dành nhiều tâm huyết cho xây dựng khu vực phòng thủ, bảo vệ vững chắc biên giới, biển, đảo. Dấu ấn của anh đặc biệt đậm nét trong việc triển khai làm đường vành đai biên giới Việt Nam-Campuchia, vừa phục vụ quốc phòng, vừa góp phần phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân khu vực biên giới.

Tháng 1-1998, anh Bảy ra Hà Nội giữ cương vị Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, sau đó đảm nhiệm nhiều trọng trách lớn như Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng; Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, được thăng quân hàm Đại tướng. Mỗi lần tôi ra công tác ngoài đó, anh nhất quyết không cho ăn ngoài mà gọi tôi vào cơ quan ăn cơm chung. Anh nói vui nhưng rất thật: “Không ăn với nhau là tôi giận đấy!”. Chúng tôi gắn bó với nhau không phải bằng chức vụ, cấp bậc, mà bằng cái tình, cái nghĩa của những người lính từng vào sinh ra tử nơi chiến trường Nam Bộ.

Sau khi cả anh và tôi đều nghỉ hưu, những cuộc trò chuyện giữa chúng tôi vẫn không bao giờ nhạt. Chúng tôi trao đổi về chiến tranh và hòa bình, về những vấn đề lý luận và thực tiễn của quân sự, quốc phòng, đối ngoại. Tôi nhớ mãi có lần anh trầm ngâm nói: Đây là thời kỳ tưởng như êm thấm, nhưng thực chất rất quyết liệt. Một số nước lớn vẫn nuôi tham vọng chính trị với các nước nhỏ, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Anh vẫn đau đáu suy nghĩ về chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, về xây dựng Quân đội vững mạnh trong điều kiện hòa bình.

Những năm tháng gắn bó với anh Bảy Dũng, tôi học được rất nhiều điều, đặc biệt là cách đối nhân xử thế. Với đồng chí, bạn bè thì hòa nhã, chân thành; với nhân dân thì giản dị, trung thực; trong công vụ thì liêm khiết, rành mạch, đặt lợi ích chung lên trên hết; còn trong đối ngoại, tiếp xúc với các đoàn công tác thì luôn nhiệt tình, cởi mở, phóng khoáng nhưng không bao giờ mất nguyên tắc.

Mấy tháng trước, tôi và anh cùng điều trị bệnh tại Bệnh viện Quân y 175. Những lúc sức khỏe khá hơn, tôi lại sang giường anh, cùng nhau ôn lại ký ức xưa. Đó là những câu chuyện của hơn nửa thế kỷ trước gắn bó với chiến trường Nam Bộ đầy bom đạn, với chung một ước vọng và quyết tâm sớm đánh đuổi giặc thù, đập tan chế độ ngụy quyền, đưa non sông về một mối. Giờ đây, khi tuổi đã cao, sức đã yếu, bệnh tật và di chứng chiến tranh hành hạ từng ngày, chúng tôi vẫn có thể mỉm cười mãn nguyện trước một đất nước hòa bình, thống nhất và đang từng bước phát triển.

Có những ngày anh Bảy yếu lắm. Tôi sang bên giường bệnh, chỉ nắm tay anh, nhìn anh. Không cần nói gì, chừng đó thôi cũng đủ hiểu nhau. Tôi xuất viện trở về nhà ít lâu, khi nghe tin anh Bảy được Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVT Nhân dân, tôi thực sự phấn khởi và xúc động. Đó là sự ghi nhận hoàn toàn xứng đáng cho một con người đã cống hiến trọn đời cho cách mạng, cho Quân đội và cho nhân dân. Nhưng rồi tôi chưa kịp vào thăm thì anh đã đi xa.

Trong niềm tiếc thương sâu lắng, hình ảnh anh Bảy Dũng-Đại tướng Lê Văn Dũng-người thủ trưởng, đồng chí, đồng đội, người bạn lúc tuổi già vẫn hiện rõ trong tôi mồn một với nụ cười hiền, phong thái gần gũi, cởi mở; một con người quả cảm, kiên cường trong chiến đấu, nghĩa tình trong cuộc sống. Đời binh nghiệp của anh là một đời trọn vẹn xả thân cho Tổ quốc, cho Đảng và cho nhân dân; là biểu tượng đẹp của một vị tướng được tôi luyện qua chiến tranh khốc liệt và thử thách khắc nghiệt của thời bình.

Đại tướng Lê Văn Dũng đã đi xa, nhưng phẩm chất và nhân cách, giá trị mà anh để lại sẽ còn sống mãi trong đồng chí, đồng đội, trong lòng Nhân dân; trở thành kinh nghiệm và bài học quý báu cho sự nghiệp xây dựng Quân đội vững mạnh trong thời kỳ mới. Với riêng tôi, đó không chỉ là niềm tự hào, sự cảm phục mà còn là nỗi tiếc thương không bao giờ nguôi.

KIÊN ANH (Ghi theo lời kể của Trung tướng Lê Thành Tâm, nguyên Phó tư lệnh Chính trị Quân khu 7)

 


Các tin khác

Tin đọc nhiều