XÂY “PHÊN DẬU VĂN HÓA” - Kỳ 1: “Cầu ngôn ngữ” nối nhịp lòng dân
Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, những người lính các Đoàn Kinh tế - Quốc phòng (Đoàn 4, Đoàn 5, Đoàn 92, Đoàn 337) thuộc Quân khu 4 không chỉ ngày đêm “ba bám (bám dân, bám bản, bám địa bàn), bốn cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào)” sát cánh cùng người dân các dân tộc “đánh giặc đói nghèo” mà còn lặng thầm góp sức “giữ hồn” cho làng, bản, dựng xây “phên dậu văn hóa” vững chắc nơi biên cương.
Kỳ 1: “Cầu ngôn ngữ” nối nhịp lòng dân
Giữa điệp trùng non ngàn phía Tây dải đất miền Trung, muốn bám bản, bám dân, bảo tồn văn hóa, bảo vệ biên cương, những người lính thuộc các Đoàn Kinh tế - Quốc phòng (Quân khu 4) tự nguyện học tiếng của đồng bào. Khi người lính làm “học trò”, “cây cầu ngôn ngữ” đã nối gần những con người khác tiếng nói, mở lối để thêm hiểu nhau và cùng gìn giữ những giá trị văn hóa nơi biên cương.
Khi người lính làm “học trò” giữa đại ngàn
Dọc tuyến biên giới thuộc địa bàn Quân khu 4, bốn Đoàn Kinh tế - Quốc phòng (KT-QP) gồm: Đoàn 5 (đóng quân tại Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa), Đoàn 4 (tại Kỳ Sơn, Quế Phong, tỉnh Nghệ An), Đoàn 337 (tại Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) và Đoàn 92 (tại A Lưới, TP Huế) ngày đêm thực hiện nhiệm vụ trên những địa bàn hiểm trở, nơi đồng bào các dân tộc H’Mông, Thái, Bru - Vân Kiều, Pa Cô, Cơ Tu, Tà Ôi... đã bao đời sinh sống. Mỗi dân tộc có một phong tục, tập quán và hệ ngôn ngữ riêng. Vì thế, với người lính làm nhiệm vụ ở cơ sở, ngôn ngữ không đơn thuần là phương tiện giao tiếp, mà còn là cánh cửa đầu tiên để bước vào thế giới văn hóa và đời sống tinh thần của đồng bào. Nếu cán bộ xuống bản chỉ giao tiếp bằng tiếng phổ thông, dù nhiệt tình, trách nhiệm đến đâu, vẫn khó tránh khỏi một “khoảng cách vô hình”: bà con có thể nghe, nhưng chưa chắc đã hiểu hết; có thể hiểu lời nói, nhưng chưa chắc đã mở lòng.
(2).jpg)
Nhận thức rõ “tiếng nói là linh hồn của dân tộc”, các Đoàn KT-QP đã tìm cách đưa việc học tiếng đồng bào trở thành một phần thiết thực trong quá trình công tác ở cơ sở. Nếu trước đây, các đơn vị chủ yếu phối hợp với Trung tâm Văn hóa các huyện tổ chức những lớp học tập trung thì nay phương pháp được điều chỉnh theo hướng linh hoạt, sát thực tế hơn. Những người lính vừa làm nhiệm vụ, vừa học tiếng; học ở đơn vị, học tại bản làng, học trong những cuộc trò chuyện với bà con và tranh thủ mọi khoảng thời gian có thể để luyện tập. Đặc biệt, trong những lớp học ấy, các cán bộ, nhân viên dày dạn sương gió lại khiêm nhường ngồi vào vị trí “học trò”; còn người đứng lớp có khi là chính cán bộ, nhân viên hoặc Trí thức trẻ tình nguyện (TTTTN), trong đó có những người là con em đồng bào địa phương.
Tại Đoàn KT-QP 92 trên vùng cao A Lưới, hình ảnh cô gái trẻ TTTTN Hồ Thị Bé Hoài kiên trì uốn nắn từng âm, từng tiếng Pa Cô, Cơ Tu cho cán bộ, nhân viên đơn vị đã trở nên quen thuộc. Điều đáng nói, những bài học của Hoài không dừng ở cách phát âm, từ vựng hay mẫu câu giao tiếp. Qua mỗi từ ngữ, cô còn giúp những người lính hiểu thêm về phong tục, tập quán, những điều kiêng kỵ trong đời sống cộng đồng, ý nghĩa của câu ca, tiếng khèn... Bởi phía sau mỗi tiếng nói là một lớp trầm tích văn hóa; hiểu được cách nói cũng là bắt đầu hiểu cách nghĩ, cách ứng xử và những điều người dân coi trọng.
.jpg)
Ở vùng biên, việc học tiếng cũng không thể bó hẹp trong một lớp học với bàn ghế, giáo án. Địa bàn rộng, bản làng cách xa nhau, đường sá nhiều nơi đi lại khó khăn khiến cán bộ, nhân viên phải tận dụng từng khoảng thời gian, từng điều kiện thuận lợi để học và thực hành. Tại Đoàn KT-QP 4, việc học tiếng H’Mông, tiếng Thái được đưa lên nhóm Zalo. Những đoạn tin nhắn thoại, video ngắn hướng dẫn phát âm, từ vựng và các mẫu câu thông dụng được gửi vào nhóm. Cán bộ, chiến sĩ tranh thủ giờ nghỉ, ngày nghỉ để nghe, đọc lại, tự ghi âm phần luyện tập rồi gửi lên nhóm. Trong các buổi sinh hoạt tập trung, chỉ huy đơn vị kiểm tra khả năng phản xạ và thực hành giao tiếp trực tiếp. Cách làm ấy biến việc học tiếng từ một nhiệm vụ mang tính thời điểm thành quá trình rèn luyện thường xuyên, tự giác và gắn chặt với công việc hằng ngày.
Học ở lớp để biết từ, học trong công việc để biết cách dùng, rồi trở lại bản làng để kiểm nghiệm những gì đã học - cứ thế, ngôn ngữ của đồng bào dần trở nên gần gũi với những người lính. Từ những âm, tiếng ban đầu còn vụng về, họ từng bước có thể trò chuyện, hỏi han, trao đổi công việc và lắng nghe tâm tư của bà con. Quan trọng hơn, việc học tiếng giúp người lính bước qua cánh cửa ngôn ngữ để tiếp cận không gian văn hóa của đồng bào bằng sự tôn trọng, chân thành và gần gũi.
Khi tiếng nói hóa nhịp cầu lòng dân
Hiệu quả của việc học tiếng không nằm ở việc người lính nhớ được bao nhiêu từ hay hoàn thành bao nhiêu bài kiểm tra, mà trước hết thể hiện ở việc khoảng cách giữa người cán bộ và người dân được rút ngắn. Khi một lời hỏi thăm được nói bằng tiếng mẹ đẻ, một câu chuyện gia đình được sẻ chia không cần qua người phiên dịch, sự gần gũi đôi khi đến tự nhiên hơn cả những lời tuyên truyền, vận động được chuẩn bị công phu.
Ở Đoàn KT-QP 4, Trung tá Cao Đình Trường, Đội trưởng Đội sản xuất 1, đã có nhiều năm gắn bó với địa bàn Kỳ Sơn. Nhờ sử dụng được tiếng H’Mông, tiếng Thái, anh thường xuyên lội suối, băng rừng đến các cụm dân cư, ngồi bên hiên nhà trò chuyện với bà con mà không cần người phiên dịch. Những cuộc gặp như thế không chỉ diễn ra khi có công việc. Có khi chỉ là một câu hỏi về mùa màng, chuyện con cái học hành, sức khỏe gia đình hay những việc xảy ra trong bản. Nhưng chính từ những câu chuyện đời thường ấy, người cán bộ hiểu thêm về cuộc sống, tâm tư và những điều người dân thực sự quan tâm.

Nhờ sử dụng được tiếng H’Mông, tiếng Thái, anh thường xuyên lội suối, băng rừng đến các cụm dân cư, ngồi bên hiên nhà trò chuyện với bà con mà không cần người phiên dịch. Những cuộc gặp như thế không chỉ diễn ra khi có công việc. Có khi chỉ là một câu hỏi về mùa màng, chuyện con cái học hành, sức khỏe gia đình hay những việc xảy ra trong bản. Nhưng chính từ những câu chuyện đời thường ấy, người cán bộ hiểu thêm về cuộc sống, tâm tư và những điều người dân thực sự quan tâm.
Thấy cán bộ nói tiếng của đồng bào mình rành rọt, bà con xem anh như người thân trong gia đình. Từ hướng dẫn kỹ thuật gieo trồng giống ngô mới, cách phòng dịch cho đàn bò đến hòa giải những xích mích nhỏ trong thôn bản, Trung tá Trường đều kiên trì giải thích bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của bà con. Người già gật đầu ưng ý, lớp trẻ lắng nghe làm theo, bởi như lời bà con nhận xét: “Bộ đội Hùng nói đúng cái bụng của người dân mình”.
Một câu nói mộc mạc nhưng cho thấy giá trị sâu xa của việc học tiếng. Khi người lính nói được tiếng của dân, người dân cảm nhận được sự tôn trọng. Khi hiểu được tiếng nói, người lính có thêm cơ hội hiểu những điều nằm phía sau lời nói. Và khi đã hiểu nhau, việc tuyên truyền, vận động, hướng dẫn sản xuất hay cùng người dân giải quyết những vấn đề của bản làng không còn là sự tác động từ bên ngoài, mà trở thành quá trình cùng chia sẻ, cùng tháo gỡ.
Tính đến nay, đã có hàng chục cán bộ, nhân viên tại các Đoàn KT-QP thuộc Quân khu 4 có thể giao tiếp bằng tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn đóng quân. Đó là kết quả của sự kiên trì, nhưng giá trị lớn hơn nằm ở sự thay đổi trong cách cán bộ tiếp cận cơ sở. Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước khi được diễn đạt bằng những lời nói gần gũi, phù hợp với cách nghĩ, cách hiểu của bà con sẽ dễ đi vào cuộc sống hơn. Những người lính vì thế không còn chỉ là người đến bản để thực hiện nhiệm vụ, mà từng bước trở thành những người được dân tin, dân nghe và sẵn sàng sẻ chia.
Học tiếng của đồng bào cũng là học cách tôn trọng một cộng đồng văn hóa. Mỗi tiếng nói mang theo lịch sử, ký ức, phong tục và cách nhìn về cuộc sống của một dân tộc. Người lính học tiếng không chỉ để nói cho dân hiểu, mà trước hết để hiểu dân nói gì, nghĩ gì, mong muốn điều gì. Từ sự thấu hiểu ấy, những giá trị văn hóa của mỗi bản làng mới có cơ hội được nhìn nhận đúng, được trân trọng và được gìn giữ bằng sự đồng thuận của chính cộng đồng.
Học tiếng của đồng bào chính là bài học vỡ lòng để người lính bước vào hành trình “giữ hồn làng, bản”. Nhưng để bản làng thực sự thay da đổi thịt, để biên cương vững vàng trong dòng chảy hội nhập, những người lính Quân khu 4 không chỉ dừng lại ở việc lắng nghe và thấu hiểu. Khi nhịp cầu ngôn ngữ đã nối liền đôi bờ lòng dân, họ tiếp tục dấn thân vào một hành trình gian nan nhưng đầy vinh quang: Thắp sáng ánh chữ xua tan bóng tối hủ tục và dang rộng vòng tay nâng bước những mầm non vùng biên cương.
HỒ LĨNH, ĐỨC CƯƠNG, HOÀNG TRUNG, DUY ĐÔNG
Kỳ 2: Thắp sáng tri thức vùng biên



