“Tiếng chiêng” vang vọng gọi “hồn làng” - Kỳ 1: "Hồn làng” trong nhịp chiêng, điệu múa
Giữa đại ngàn Trường Sơn, “tiếng chiêng” của đồng bào Tà Ôi – Cơ Tu – Pa Cô… ở A Lưới, phía Tây thành phố Huế ngân lên như mạch nguồn bất tận, đánh thức ký ức, truyền thống và bản sắc của cả cộng đồng vùng biên. Thế nhưng, những tác động của cuộc sống... khiến nhiều lễ hội, làng nghề và phong tục tập quán đứng trước nguy cơ phai nhạt, cần có những biện pháp phù hợp để “tiếng chiêng” không lạc giữa đại ngàn và để “hồn làng” còn ấm trong từng nếp nhà sàn, từng bước chân người giữ núi.
Kỳ 1: “Hồn làng” trong nhịp chiêng, điệu múa
Buổi sớm ở miền Tây thành phố Huế luôn đủ sức khiến bất cứ ai đặt chân đến cũng phải lắng lại giữa đại ngàn. Mây phủ mềm mại trên những dãy Trường Sơn trập trùng, khói bếp bảng lảng cay nồng bên mái nhà sàn, hòa trong tiếng trẻ nhỏ í ới gọi nhau đến lớp. Từ những nhà sinh hoạt cộng đồng hay trên sân nhà của người dân ở các thôn bản vùng A Lưới, tiếng chiêng, tiếng khung cửi lách cách… ngân lên bền bỉ, như đánh thức “hồn làng” sau một giấc ngủ dài.
Với đồng bào Tà Ôi – Cơ Tu – Pa Cô, văn hóa không phải là thứ trầm mặc để trưng bày trong bảo tàng, mà là cách người ta hít thở, sống và gìn giữ mỗi ngày như mạch máu chảy trong tim. Từ nhịp chiêng rộn rã, điệu múa uyển chuyển, tấm zèng rực rỡ sắc màu đến lễ hội cộng đồng ấm áp nghĩa tình – tất cả hòa quyện thành một hệ giá trị bền chặt, âm thầm định hình bản sắc và luật tục thiêng liêng của làng bản.
Thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính, mô hình chính quyền địa phương hai cấp, vai trò của văn hóa truyền thống càng trở nên đặc biệt quan trọng hơn bao giờ hết. Các lễ hội cộng đồng, làng nghề, phong tục tập quán không chỉ là “vốn quý” của núi rừng, mà còn là nền tảng xã hội, tinh thần vững chãi, giúp chính quyền cơ sở gần dân, hiểu dân và vận hành hiệu quả hơn trong kỷ nguyên mới.
Trong ngôi nhà sàn thấm đượm mùi khói bếp nằm giữa thôn A Min – C9, xã A Lưới 4 già làng Hồ Văn Diều – người được xem là “kho tư liệu sống” của cộng đồng Tà Ôi, chậm rãi kể chuyện bên chén trà nóng, ánh mắt ông xa xăm như nhìn về phía những cánh rừng già. Giọng già trầm đục nhưng đanh thép: “Cái chữ trong sách thì quý, nhưng cái hồn người Tà Ôi mình thì phải học từ nhịp chiêng, điệu múa. Cái bụng muốn giữ bản làng thì phải giữ cho được cái lễ hội, giữ cái cách sống của ông bà mình hồi xưa. Văn hóa mình đẹp như tấm zèng, quý như hạt lúa rẫy, phải làm sao để lớp trẻ sau này tiếp bước, để cái niềm tự tôn dân tộc mình mãi mãi rực cháy như ngọn lửa trên bếp sàn, chẳng bao giờ tắt”.
.jpg)
Theo lời già Hồ Văn Diều, trước đây, hầu như tháng nào trong năm cũng có Lễ hội Âr Pục (Đoàn kết), Lễ A Za (mừng lúa mới), lễ Cầu mưa,… Mỗi lễ hội là một “lớp học cộng đồng” giữa đại ngàn, nơi bên ánh lửa bập bùng, người lớn dạy trẻ con cách đón nhịp đánh chiêng, dệt zèng, làm guồng nước, học luật làng. “Đứa biết đánh chiêng là đứa hiểu luật làng. Đứa biết dệt zèng là đứa biết thương đất, thương người”, già làng Hồ Văn Diều nói.
Trên con đường đất đỏ còn vương chút hơi sương dẫn vào thôn Pa rít – Ka Vin, xã A Lưới 4, tiếng thoi dệt lách cách vang lên đều đặn như nhịp tim của bản làng. Chị Hồ Thị Ngợp, người gắn bó với nghề dệt zèng truyền thống hơn 20 năm, vừa nhanh tay đưa thoi bên khung dệt vừa chia sẻ: “Mẹ tôi dạy tôi dệt từ khi mới 8 tuổi. Mỗi dịp lễ hội, cả thôn cùng may váy áo cho đoàn múa, ai cũng háo hức, tiếng cười nói rộn ràng khắp ngõ. Giờ khách du lịch tìm đến nhiều hơn, mừng cái bụng vì có thêm thu nhập, chúng tôi sẽ vẫn là giữ nghề để con cháu biết mình là ai, biết yêu từng sợi chỉ, màu tấm vải zèng của cha ông mình”.

Theo lời chị Ngợp, mỗi tấm zèng không chỉ là sản phẩm thủ công đơn thuần mà là một câu chuyện văn hóa được kể bằng những sợi chỉ màu. Từng hoa văn, họa tiết đều gắn với hơi thở của núi rừng, nhịp chảy của sông suối, trời đất và quan niệm sống thuần khiết của đồng bào. “Cái bụng mình thương nghề dệt lắm, vì dệt zèng là dệt nên cái hồn của người Tà Ôi mình mà. Nhưng nhìn bầy con nheo nhóc, cái bụng mình cũng xót, chỉ muốn cái tay đưa thoi thật nhanh, cái mắt nhìn sợi chỉ thật kỹ để dệt được tấm zèng đẹp, bán đi lấy cái tiền lấp cái đói, cái khổ... Mình giữ cái nghề của ông bà không chỉ vì cái tự hào đâu, mà còn để nuôi cái sống cho bản làng, cho con cháu mình sau này nữa”. Chị Ngợp bày tỏ, đôi bàn tay thô ráp vì sương gió vẫn thoăn thoắt đưa thoi trên khung cửi.
Hoa văn trên zèng là hình ảnh cách điệu của núi rừng, sông suối, mặt trời, con người và các biểu tượng tâm linh đầy huyền bí. Màu sắc tương phản mạnh mẽ, bố cục hoa văn thể hiện quan niệm sống hài hòa với thiên nhiên, tôn trọng cộng đồng và đề cao vai trò của người phụ nữ – những người “giữ lửa” bản sắc văn hoá. Mỗi đường hoa văn thêu lên không chỉ là sự khéo léo của đôi tay, mà còn là niềm tự hào kiêu hãnh của người con gái vùng cao.
Vượt ra ngoài không gian bản làng chật hẹp, zèng A Lưới đã từng bước kiêu hãnh hiện diện trên các sàn diễn thời trang lớn, các triển lãm văn hóa trong nước và quốc tế, trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà thiết kế. Từ tấm vải thô mộc dùng trong lễ hội, zèng đã được thổi hồn sáng tạo thành những bộ trang phục hiện đại đầy cá tính, sản phẩm lưu niệm, quà tặng văn hóa tinh xảo – đưa câu chuyện về sức sống mãnh liệt của vùng cao Trường Sơn đến với bạn bè năm châu.
Về kinh tế – xã hội, dệt zèng góp phần tạo sinh kế tại chỗ, giúp phụ nữ vùng cao tự tin tăng thu nhập, giảm dần sự phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp thuần túy vốn nhiều vất vả. Khi nghề dệt được duy trì và tiếp nối, người phụ nữ không chỉ là người giữ lửa văn hóa âm thầm, mà còn là chủ thể năng động tham gia phát triển kinh tế cộng đồng. Chính những sợi chỉ màu đan xen ấy đang dệt nên một diện mạo mới cho bản làng, nơi cái nghèo dần lùi xa để nhường chỗ cho niềm tự hào về một di sản của bản làng vùng biên.
Không ít người trẻ A Lưới hôm nay đang nỗ lực học đánh chiêng, thổi sáo, học múa, học nghề dệt thông qua các đội văn nghệ thôn, các câu lạc bộ văn hóa cộng đồng đầy nhiệt huyết. Trường học, tổ chức đoàn thể cũng từng bước đưa tiếng chiêng, điệu múa, trang phục truyền thống vào sinh hoạt ngoại khóa, góp phần nuôi dưỡng niềm tự hào bản sắc ngay từ trong nếp nghĩ, cách làm của thế hệ kế cận. “Tiếng chiêng” không còn chỉ vang lên trong ký ức của người già, mà còn ngân rung trong đôi tay của những người trẻ, hứa hẹn một sự tiếp nối bền bỉ, vững vàng.
Già làng Hồ Văn Diều chia sẻ: “Bản làng mình giàu có là ở cái vốn cổ cha ông để lại. Sau này, lớp trẻ cứ thế mà vững vàng tiếp bước, giữ lấy nhịp chiêng cho vang, giữ điệu múa cho khéo. Không phải ai cũng làm cán bộ, nhưng ai cũng phải biết tự hào về cái nếp sống, cái bản sắc của dân tộc mình. Tiếng chiêng vang lên đến đâu là uy danh người Tà Ôi mình lan xa đến đó, khẳng định cái gốc rễ bền sâu của mình trên mảnh đất này”. Câu nói đanh thép ấy không chỉ là lời dặn dò, mà còn là một bản “tuyên ngôn” về lòng tự tôn dân tộc. Văn hóa chính là tấm thẻ căn cước thiêng liêng nhất, là niềm kiêu hãnh rực rỡ nhất trong mỗi người con đất núi.
Hiện nay, các đội chiêng thanh thiếu niên, câu lạc bộ dệt zèng, đội múa dân gian thôn bản được duy trì đều đặn, không chỉ phục vụ lễ hội mà còn tự tin biểu diễn trong các sự kiện chính trị, văn hóa của địa phương. Em Hồ Văn Phươn, xã A Lưới 4 chia sẻ: “Những lần cùng bà con trong làng tham gia đánh chiêng tại các lễ hội, em được hòa mình vào không khí linh thiêng và rộn ràng của cộng đồng. Qua đó, em cảm nhận rõ niềm tự hào và trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ, tiếp nối văn hóa truyền thống của dân tộc…”.
Gần đây, huyện A Lưới (cũ) đã tổ chức Chương trình “Sắc xuân vùng cao A Lưới” tại Làng văn hóa các dânh tộc thuộc xã Hồng Thượng (cũ), nay thuộc xã A Lưới 3, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Chương trình đã tái hiện sinh động không gian văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn, với nhiều hoạt động phong phú như trình diễn trang phục zèng rực rỡ, giới thiệu ẩm thực dân gian đậm đà hương vị núi rừng, tổ chức các trò chơi truyền thống và lễ hội mùa xuân rộn ràng.
Qua đó, chương trình góp phần quan trọng trong việc gìn giữ, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời quảng bá hình ảnh vùng cao A Lưới thân thiện, giàu bản sắc đến với du khách trong và ngoài nước. Hiện nay, khu làng thuộc xã A Lưới 3 tiếp tục được duy trì như một không gian mở để lưu giữ, quảng bá và trình diễn các hoạt động văn hóa đặc sắc của các dân tộc trên địa bàn. Nơi đây, mỗi gốc cây, mái nhà đều mang trong mình hơi thở của lịch sử và khát vọng vươn lên của cộng đồng.
Bên cạnh đó, tại trung tâm xã A Lưới 2, mô hình phiên chợ vùng cao đang từng bước phát huy hiệu quả trong việc quảng bá sản phẩm và gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương. Không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, phiên chợ còn trở thành không gian giao lưu văn hóa đặc sắc, nơi hội tụ các sản phẩm truyền thống như zèng, đan lát, nông sản sạch và ẩm thực bản địa. Đây thực sự là một “kênh sống” giúp văn hóa hiện diện trong đời sống thường nhật một cách tự nhiên và bền vững.
Đặc biệt, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giá trị và vai trò của các thiết chế văn hóa truyền thống ngày càng được nhận diện rõ ràng, sâu sắc hơn. Ở những vùng cao, nơi giao thông còn nhiều trở ngại và dân cư sinh sống rải rác giữa núi rừng, luật tục cùng uy tín của già làng, trưởng bản vẫn giữ vị trí đặc biệt, như một dạng “pháp luật không thành văn” ăn sâu vào đời sống tinh thần của cộng đồng. Thực tế tại A Lưới cho thấy, nhiều vấn đề như hòa giải mâu thuẫn, tuyên truyền vận động người dân thực hiện chủ trương, chính sách, bảo vệ rừng hay giữ gìn an ninh biên giới… đạt hiệu quả cao khi được lồng ghép linh hoạt trong các buổi sinh hoạt cộng đồng, lễ hội truyền thống, hoặc thông qua tiếng nói có sức ảnh hưởng của những người uy tín.
Theo anh Hồ Dũng, Chủ tịch UBND xã A Lưới 4, các hoạt động như lễ hội cộng đồng, sinh hoạt dòng họ hay duy trì làng nghề truyền thống đóng vai trò như những “nhịp cầu” gắn kết. Khi cần triển khai chủ trương, chỉ cần thông qua già làng, thông qua lễ hội hay âm thanh quen thuộc của tiếng chiêng, người dân nhanh chóng thấu hiểu và đồng thuận. Hiệu quả của chính quyền hai cấp, vì vậy, phụ thuộc nhiều vào việc gắn bó với nền tảng văn hóa bản địa, lấy văn hóa làm “ngôn ngữ chung” trong đối thoại với người dân.
Từ góc nhìn đó, văn hóa trở thành một “cầu nối mềm” nhưng bền vững giữa chính quyền và Nhân dân — vừa bảo tồn bản sắc dân tộc, vừa góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở. Sự kết hợp hài hòa giữa ý Đảng và lòng dân, giữa luật tục và pháp luật, đã tạo nên thế trận lòng dân vững chắc, để mỗi bản làng vùng biên không chỉ là không gian văn hóa giàu bản sắc mà còn là những “pháo đài” bình yên nơi biên cương Tổ quốc.
Giữa đại ngàn Trường Sơn lộng gió, “tiếng chiêng” ở vùng cao A Lưới vang vọng, đó không chỉ là âm thanh của các lễ hội, mà còn là nhịp đập bền bỉ của cộng đồng, là ký ức và niềm tin được trao truyền qua bao thế hệ. Chừng nào “tiếng chiêng” còn vang vọng giữa núi rừng, chừng đó bản làng vẫn giữ được hồn cốt; A Lưới vẫn đứng vững trên nền tảng văn hóa bền sâu của mình. Âm thanh ấy như lời ước thề của đại ngàn, là sợi dây vô hình kết nối con người với con người, con người với thiên nhiên hùng vĩ.
Thế nhưng, thực tế cũng đặt ra không ít trăn trở khi những giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một. Sự lan tỏa của lối sống hiện đại cùng nhịp sống công nghiệp khiến một bộ phận giới trẻ dần xa rời phong tục, tập quán. Trong khi đó, các nghệ nhân – những “pho sử sống” lưu giữ tri thức văn hóa – ngày càng thưa vắng. Không gian sinh hoạt cộng đồng và các lễ hội truyền thống cũng dần thu hẹp, thiếu đi sự gắn kết tự nhiên từng là mạch nguồn nuôi dưỡng đời sống tinh thần nơi bản làng.
Bài, ảnh: HỒ LĨNH – HOÀNG TRUNG – HỒ DÓI
Kỳ 2: Khi “tiếng chiêng” “không còn vang”



