Nét độc đáo, sáng tạo của nghệ thuật tác chiến chiến dịch - Một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ
Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch tiến công lớn nhất trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam với Quân đội Liên hiệp Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ cũng là chiến thắng quân sự lớn nhất trong kháng chiến chống thực dân Pháp của Quân đội ta kể từ năm 1945 - 1954; diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh; nay thuộc phường Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; buộc thực dân Pháp phải đầu hàng. Đó là thảm họa bất ngờ, đau đớn đối với thực dân Pháp và giáng một đòn mạnh mẽ vào tinh thần của giới quân sự phương Tây; đánh bại ý chí duy trì thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương. Thắng lợi mang tầm vóc thời đại ấy không chỉ thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta, mà còn khẳng định sự phát triển sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Phá vỡ và phân tán lực lượng cơ động chiến lược của địch
Nét độc đáo, sáng tạo đầu tiên trong nghệ thuật tác chiến chiến dịch Điện Biên Phủ là nghệ thuật phân tán binh lực địch; điều động lực lượng cơ động chủ lực của chúng theo cách đánh của ta. Trước khi bước vào chiến dịch, chín phần mười trong tổng số 82 tiểu đoàn cơ động chiến lược và chiến thuật của Nava đã bị giam chân, buộc phải phân tán, đối phó với ta trên khắp chiến trường Đông Dương.

Quân đội Nhân dân Việt Nam đã mở hàng loạt các mặt trận khác nhau, trên các hướng Tây Bắc và Thượng Lào, hướng Trung và Hạ Lào, hướng Tây Nguyên, liên Khu V và các hướng phối hợp ở Bình - Trị - Thiên, Nam Trung Bộ. Khắp các vùng tạm chiếm từ trung du, đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, đến chiến trường Lào và Campuchia đều đẩy mạnh hoạt động chiến tranh du kích... chống bắt lính, giải phóng thêm hàng chục nghìn km vuông tại Việt Nam và Lào, buộc Pháp phải căng mỏng lực lượng đối phó. Những hoạt động đó của Quân đội Nhân dân Việt Nam làm đảo lộn toàn bộ chiến lược và thế bố trí lực lượng của Pháp tại Đông Dương. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ghìm chân quân Pháp trên khắp các chiến trường, Nava không còn gì nhiều để cứu nguy cho con nhím Điện Biên Phủ khi bị ta tiến công, tiêu diệt.
Rõ ràng, Bộ Chỉ huy của tướng Nava đã buộc phải hành động theo ý định của ta, phân tán khối cơ động chủ lực của mình và bị tước mất khả năng tăng cường binh lực cho Điện Biên Phủ. Điều đó khiến cho gần nửa triệu quân Pháp và ngụy, cùng 500 máy bay các loại, gần 1.000 xe tăng và xe bọc thép, hàng trăm tàu chiến bị phân tán, dàn mỏng ra khắp Đông Dương; lâm vào thế trói tay, cột chân để Quân đội nhân dân Việt Nam tập trung những lực lượng mạnh nhất tiêu diệt toàn bộ tập đoàn phòng ngự Điện Biên Phủ.
Cắt đứt mọi nỗ lực chi viện tiếp tế đường bộ, đường không
Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh có 16.200 quân, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh (với 40 khẩu pháo 105 ly và 155 ly), 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, bố trí trong 8 trung tâm đề kháng với 49 cứ điểm có hầm hào, lô cốt, hầm ngầm kiên cố; được bao bọc bởi các hàng rào dây kẽm gai, bãi mìn các loại. Tập đoàn cứ điểm còn có 2 sân bay (Mường Thanh và Hồng Cúm), hàng ngày có từ 200 đến 300 tấn lương thực, súng đạn, thuốc men do 100 máy bay từ Hà Nội, Hải Phòng chở tới tiếp tế. Đặt hy vọng và coi đó là ưu thế tuyệt đối hơn hẳn đối phương về khả năng tiếp tế, tăng viện.
Nhưng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bao bọc bởi núi rừng trùng điệp, xa căn cứ không quân ở vùng Đồng bằng, tiếp tế tăng viện đường bộ khó khăn, sinh lực của hàng vạn tên địch phụ thuộc hẳn vào cầu hàng không, nối với miền xuôi. Ta biến cầu hàng không của chúng thành chỗ yếu chí tử của địch.

Nét độc đáo sáng tạo trong nghệ thuật ngăn chặn, cắt đứt mọi nỗ lực chi viện tiếp tế bằng đường bộ và đường không của chúng cho cái dạ dày của tập đoàn cứ điểm. Ngày 20/11/1953, ngay từ khi Pháp đổ 6 tiểu đoàn xuống Điện Biên Phủ, ta đã sử dụng Đại đoàn 316, 308 triển khai bao vây. Đồng thời ta sử dụng Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) tổ chức cắt đường rừng xuống ngã 3 Pom Lót, chốt chặn không cho địch rút chạy và chi viện, tiếp tế từ Lào sang. Tập trung lực lượng tổ chức đánh địch rộng khắp trên các hướng, kết hợp với chiến tranh du kích phá tề, chống bắt lính…. Tại đồng bằng Bắc Bộ, từ đầu tháng 3/1954, bộ đội ta tập kích sân bay Gia Lâm, đốt cháy một kho xăng, phá huỷ 18 máy bay. Ba ngày sau đó, dân quân, du kích Kiến An tập kích sân bay Cát Bi, phá huỷ 59 máy bay cùng một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh. Trong những ngày tiếp theo, quân và dân khu Tả ngạn sông Hồng mở nhiều đợt tổng công kích, làm tê liệt Đường số 5..., triệt phá hậu cần kỹ thuật, phương tiện tiếp tế chi viện của địch. Ở phía Hữu ngạn, các đại đoàn chủ lực cùng với bộ đội địa phương và dân quân, du kích vừa tiến công địch, vừa đẩy mạnh công tác binh vận làm cho hàng vạn lính ngụy bỏ ngũ, hàng loạt tổ chức tề ngụy tan rã.
Trong từng đợt chiến dịch, bộ binh ta luôn bao vây, kiềm chế, áp sát địch trong tập đoàn cứ điểm. Sau từng trận đánh, mỗi đợt tiến công, cứ điểm của địch dần bị thu hẹp. Ngay từ đợt đầu chiến dịch, sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm “con át chủ bài” chi viện tiếp tế của Pháp bị hỏa lực bộ binh, pháo binh đánh phá, khống chế; pháo phòng không thu hẹp bầu trời; loại bỏ mọi khả năng cất, hạ cánh của máy bay địch. Đợt 2 chiến dịch, trận địa chiến hào của ta như chiếc lòng lọng, từng bước thắt chặt tập đoàn cứ điểm của chúng, làm cho chúng hoàn toàn bất lực, không có phương sách nào để khắc chế. Quân ta vây lấn, đào hào cắt ngang cả sân bay, đào hào đến tận chân lô cốt cố thủ. Khu vực kiểm soát của quân Pháp bị thu hẹp đến mức không đủ sức kháng cự. Lực lượng địch hoàn toàn bị cô lập, chỉ đủ sức tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm bằng cách thả dù. Nhưng phần lớn hàng tiếp tế của chúng đều rơi vào quân ta. Bộ Chỉ huy Pháp biết rất rõ, biết từng ngày, biết cả số liệu cụ thể nhưng không còn cách nào khác; từng ngày vẫn phải tiếp tế nhiều hơn, càng tiếp tế tập đoàn cứ điểm càng thêm nguy cơ "tắt thở".
Vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn tác chiến
Trên cơ sở phát huy mạnh mẽ quyền chủ động tiến công chiến lược, điều động địch theo ý mình và buộc địch phải đánh theo cách của ta, tiến tới chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược. Nghệ thuật chiến dịch đã giải quyết đúng đắn nhưng rất kiên quyết và sáng tạo, phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” kịp thời chuyển sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định thắng lợi của toàn chiến dịch. Phương pháp tác chiến chiến dịch là hình thành thế bao vây toàn diện, tập trung ưu thế binh lực, hỏa lực đánh hiệp đồng binh chủng, tiêu diệt gọn từng bộ phận quân địch, đánh liên tục cả ngày lẫn đêm; đánh bằng hình thức tiến công, phòng ngự, đánh phản kích, đánh lấn, bắn tỉa, đoạt dù tiếp tế, càng đánh càng thắt chật vòng vây, bao vây đường không, làm cho quân địch tiêu hao, mệt mỏi, cuối cùng tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm của chúng.
Trong phương pháp tác chiến chiến dịch, vấn đề nổi bật là tiến công hiệp đồng binh chủng; phát huy, sức mạnh của binh chủng lục quân, tạo ưu thế tuyệt đối cả về binh lực và hỏa lực trong từng trận đánh để thực hiện các trận đánh tiêu hao tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm trong hệ thống tập đoàn cứ điểm. Trận Him Lam, mở màn chiến dịch lúc 17 giờ ngày 13/3/1954, tập trung ưu thế giữa ta và địch về binh lực là 3/1; hỏa lực, ta hơn địch 10 lần. Tiếp đó, từ ngày 14 đến 17/3, ta tiến công cứ điểm Độc Lập với ưu thế về lực lượng ta hơn địch 4,5 lần. Cứ điểm Độc Lập bị tiêu diệt, tạo thế uy hiếp tiến công và bức hàng quân địch ở Bản Kéo (binh lực của ta so với địch là 3/1).

Chiến thuật của quân đội ta có bước phát triển rất quan trọng ở mặt trận Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên có sự xuất hiện của pháo xe kéo, pháo cao xạ. Tuy không nhiều nhưng với chiến thuật bố trí hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung, kết hợp giữa bố trí cố định của pháo xe kéo với cơ động của sơn pháo và pháo cối, hỏa lực của pháo binh đã chi viện cho bộ binh đánh chiếm các cứ điểm, cụm cứ điểm, công sự vững chắc, nhanh chóng chuyển sang phòng ngự bám trụ đánh quân phản kích. Bên cạnh các trận đánh tiến công, đã xuất hiện cả loại hình chiến đấu phòng ngự trận địa. Sự kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và phòng ngự, lấy tiến công là loại hình chủ yếu, cơ bản, quyết định. Tiến công và phòng ngự trong chiến dịch Điện Biên Phủ được kết hợp một cách sáng tạo; từng bước chuyển hóa thế trận có lợi cho ta. Tiến công kiên quyết tiêu diệt từng ụ súng, lô cốt, cứ điểm; phòng ngự vững chắc, đánh bại các cuộc phản kích của địch tạo điều kiện tiếp tục phát triển tiến công tiêu diệt các mục tiêu khác, cứ điểm khác.
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo nghệ thuật chiến dịch vây hãm và tiến công, chiến thuật của ta đã có sự phát triển rất linh hoạt và đa dạng. Hệ thống trận địa bao vây và tiến công ngày càng khép chặt, ta tiến hành cắt đứt và chiếm hẳn sân bay, khống chế từng phần đến khống chế toàn bộ mọi sự tiếp tế, chi viện bằng đường không của địch làm cho tập đoàn cứ điểm của chúng bị cô lập và thu hẹp. Ta đánh chiếm đến đâu, tổ chức phòng ngự ngay đến đó; biến cứ điểm của địch thành trận địa phòng ngự, vây hãm chúng ngày càng chặt; dồn chúng vào thế bất lợi, chỉ còn cách là chịu bị tiêu diệt hoặc đầu hàng. Dựa vào hệ thống trận địa phòng ngự, tiến công và bao vây, quân ta đã sáng tạo ra nhiều cách đánh, như: đào dũi, đánh lấn, bắn tỉa, tranh đoạt dù tiếp tế của địch,… Những cách đánh thích hợp đạt hiệu suất rất cao, vây hãm địch dài ngày, đánh tiêu diệt địch từng bước, đột phá lần lượt, tiêu diệt từng bộ phận tiến tới tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch.
Vận dụng linh hoạt, sáng tạo cách đánh
“Đánh chắc, tiến chắc” ở Điện Biên Phủ được thực hiện theo lối đánh gần độc đáo, sáng tạo. Đánh gần không chỉ là đánh giáp lá cà, chui qua hàng rào, cơ động qua các bãi mìn, để đánh bộc phá, phá hủy các công sự hoặc sử dụng hoả lực bắn thẳng, lựu đạn để tiêu diệt địch trong các trận chiến đấu. Mà đó là lối "đánh gần chiến dịch", tiến công vào tập đoàn cứ điểm mạnh, khi ta không có phương tiện tiến công địch từ xa, phương tiện đột kích mạnh như xe tăng thiết giáp, pháo tự hành, phương tiện cơ động hiện đại như máy bay, tàu chiến, xe bọc thép... và thiếu phương tiện hoả lực để khống chế địch, bảo vệ đội hình chiến đấu.
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có hệ thống phòng ngự trận địa rộng lớn, nhiều cứ điểm, cụm cứ điểm và phân khu. Sức đề kháng độc lập cao, liên hoàn chặt chẽ, dễ dàng chi viện, hỗ trợ, phản kích chiếm lại cứ điểm bị ta đánh chiếm. Nhưng chúng hoàn toàn bất lực trước lối đánh gần độc đáo của ta là vây, lấn, chia cắt đối phương. Vây, lấn cắt đứt mọi khả năng tăng viện, tiếp tế của chúng từ bên ngoài, giam chân địch tại chỗ, không cho chúng đánh rộng ra, không cho địch rút chạy, chia cắt địch không cho chúng co cụm, phản kích, chi viện, hỗ trợ nhau… Điều "khác biệt" là, quân ta bao vây, chia cắt sân bay Mường Thanh - sân bay chính của tập đoàn cứ điểm không phải bằng không quân và hệ thống hỏa lực phòng không dày đặc, mà bằng hệ thống trận địa bao vây, đánh lấn; bằng đường hào chiến đấu. Cũng bằng hệ thống trận địa tiến công và trận địa bao vây, quân ta đã vây chặt phân khu Hồng Cúm tách chúng ra khỏi phân khu trung tâm, cô lập Điện Biên Phủ với Thượng Lào và toàn Đông Dương. Cách đánh vây, lấn, áp sát và chia cắt địch đã tạo ra thế uy hiếp lớn gấp đôi so với lực ta có; hạn chế tối đa chỗ mạnh của quân phòng ngự cả về không gian, phương tiện cơ giới và hỏa lực pháo binh. Quân ta không tốn nhiều đạn mà vẫn tiêu diệt toàn bộ một tập đoàn cứ điểm lớn, bắt sống trên 10.000 tên địch.

Cách đánh gần độc đáo ở Điện Biên Phủ còn thể hiện ở chỗ, ta tập trung ưu thế tiến công tiêu diệt từng cứ điểm, từng bộ phận quân địch, phá vỡ từng mảng phòng ngự của đối phương. Đợt tiến công thứ nhất diễn ra từ ngày 13 đến 17/3 tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam. Ngày 15/3 quân ta tiếp tục tiến công cứ điểm Độc Lập, uy hiếp, bức hàng cứ điểm Bản Kéo. Đợt tiến công thứ hai bắt đầu từ ngày 30/3 đến 24/4, quân ta đánh chiếm các ngọn đồi phía đông áp sát khu trung tâm, cắt hết đường tiếp tế, tiếp viện, vây chặt lực lượng phòng ngự của địch. Lúc 17 giờ ngày 30/3, pháo binh mở đầu cuộc tiến công. Các cao điểm E, D1, D2... lần lượt rơi vào tay quân ta. Đợt tiến công này, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch, tương đương sáu tiểu đoàn, trong đó có ba tiểu đoàn bị tiêu diệt gọn. Nhiều vị trí của địch bị ta uy hiếp quá mạnh phải bỏ chạy, sân bay bị ta đánh chiếm hoàn toàn. Thả dù là biện pháp duy nhất để tiếp tế cho quân phòng ngự.
Tiến công tiêu diệt từng cứ điểm, từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ là điểm khác biệt thể hiện nét sáng tạo, độc đáo không thể phủ nhận. Cách đánh đó cho phép ta khắc phục được nhiều điểm mạnh của chúng. Quân ta vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, có thời gian cần thiết để chuẩn bị tăng cường lực lượng, giành thắng lợi sau lớn hơn thắng lợi trước. Chính vì thế, trong 3 đợt tiến công, mỗi đợt đều giải quyết một phần quan trọng của mục đích chiến dịch. Đợt tiến công thứ ba mở đầu đúng ngày 1/5, kết thúc lúc 17 giờ 30 ngày 7/5/1954, toàn bộ Bộ Tham mưu và tướng Đờ Cátxtơri bị bắt sống. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của quân Pháp bị tiêu diệt hoàn toàn đã chứng minh điều đó.
Hơn bảy mươi hai năm đã qua đi nhưng âm hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn vang vọng mãi mãi như một bản hùng ca bất diệt trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Những nét độc đáo, sáng tạo của nghệ thuật tác chiến chiến dịch, góp phần quyết định thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ là những bài học vô giá cho chúng ta nghiên cứu, phát triển, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.
Đại tá, TS LÊ QUANG TRUNG
Học viện Chính trị Quân sự



