Người lính trở về từ lửa đạn
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong ký ức của những người lính trở về, tiếng bom đạn, hình ảnh đồng đội và những tháng ngày nơi chiến trường vẫn còn nguyên vẹn. Cuộc đời của thương binh Nguyễn Văn Lợi, ở xã Hưng Nguyên Nam (Nghệ An), từ người lính đặc công nơi tuyến lửa đến một công dân bình dị giữa thời bình, là minh chứng sinh động cho ý chí, bản lĩnh và sự cống hiến của thế hệ đã làm nên hòa bình, độc lập cho dân tộc.
Nắng sớm trải vàng trên con đường dẫn vào ngôi nhà nhỏ của ông Nguyễn Văn Lợi. Trong căn phòng khách giản dị, ấm trà xanh vừa pha còn tỏa khói. Người cựu chiến binh với mái tóc bạc, dáng người nhỏ nhắn, chống chiếc chân giả bước ra đón khách bằng nụ cười hiền hậu. Ít ai nghĩ rằng người đàn ông bình dị ấy từng là trinh sát viên Tiểu đội C54, D9, E16, Bộ Tư lệnh Đặc công; người đã đi qua những chiến trường ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mang trên mình thương tật hạng 1/4 cùng 13 mảnh đạn vẫn còn nằm lại trong cơ thể.

Người cựu chiến binh Nguyễn Văn Lợi chậm rãi rót từng chén trà, ánh mắt xa xăm như trở về gần sáu thập kỷ trước. Quanh ông, những đoàn viên, thanh niên lặng im lắng nghe. Không còn khoảng cách giữa hai thế hệ, chỉ còn những câu chuyện được nối dài bằng sự trân trọng và lòng biết ơn.
Từ căn nhà nhỏ giữa vùng quê yên bình, ký ức về một thời hoa lửa dần hiện lên qua lời kể mộc mạc của người lính đặc công năm ấy. Đó là câu chuyện về một chàng sinh viên gác lại giảng đường để lên đường nhập ngũ; về những trận đánh sinh tử, những đồng đội mãi mãi nằm lại chiến trường và một tuổi trẻ hiến dâng trọn vẹn cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Năm 1968, vừa hoàn thành đồ án tốt nghiệp Trường Trung cấp Gang thép Thái Nguyên, Nguyễn Văn Lợi nhận lệnh tổng động viên. Hai giờ đồng hồ ngắn ngủi trở về quê thăm mẹ rồi lại vội vã lên đường là lời chia tay duy nhất của chàng sinh viên trước khi bước vào cuộc chiến. Tương lai của một kỹ thuật viên ngành gang thép khép lại, nhường chỗ cho màu xanh áo lính. Sau thời gian huấn luyện, ông được tuyển chọn vào lực lượng đặc công – nơi mỗi nhiệm vụ đều phải đánh đổi bằng lòng quả cảm và cả tính mạng.
"Ra đi, chúng tôi không nghĩ đến ngày trở về". Đó không phải lời nói mang màu sắc anh hùng ca, mà là sự thật bình dị của một thế hệ coi việc cầm súng bảo vệ Tổ quốc là lẽ tự nhiên của tuổi trẻ. Những ký ức chiến trường vẫn hiện lên nguyên vẹn trong tâm trí ông: Những cuộc hành quân xuyên rừng, những trận đánh giáp lá cà giữa mưa bom, bão đạn và những ngày cái đói luôn rình rập. Có thời điểm, nhiều ngày liền đơn vị không có nổi một bữa cơm, phải cầm cự bằng sắn, lạc, ngũ cốc hay bất cứ thứ gì tìm được để tiếp tục chiến đấu.
Gian khổ là vậy, nhưng điều ám ảnh ông hơn cả là những lần tiễn đồng đội sau mỗi trận đánh. Có người vừa còn kề vai xung trận, chỉ ít giờ sau đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Mỗi sự hy sinh là một khoảng trống không gì bù đắp được, nhưng cũng hun đúc thêm ý chí chiến đấu của những người còn sống.
Với họ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước không chỉ là mệnh lệnh từ Tổ quốc mà còn là niềm tin, là lẽ sống để những chàng trai tuổi đôi mươi sẵn sàng bước qua mọi gian khổ, đối diện với cái chết mà không một lần chùn bước. Nhắc đến trận đánh sân bay Téc-Níc, giọng ông chợt trầm xuống. Đó là trận chiến rất ác liệt, nhiều đồng đội mãi mãi nằm lại, còn ông vĩnh viễn mất đi chân phải.
Những ngày điều trị trong bệnh viện dã chiến cũng không có ranh giới giữa sự sống và cái chết khi bom đạn liên tiếp trút xuống. Dù bị thương nặng, ông vẫn dùng chân còn lại lết qua từng hầm trú ẩn, cùng đồng đội đưa những người đã ngã xuống ra khỏi nơi bom đạn.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ký ức ấy chưa bao giờ phai nhạt. Đến hôm nay, ông vẫn mang trong mình 13 mảnh đạn, trong đó có một mảnh chỉ cách tim đúng một centimet nên các bác sĩ không thể can thiệp. Mỗi khi trái gió trở trời, những cơn đau lại âm ỉ nhắc ông về những năm tháng chiến tranh. "Mình còn may mắn hơn nhiều đồng đội đã nằm lại chiến trường". Câu nói mộc mạc ấy của ông chứa đựng sự từng trải, lòng bao dung và bản lĩnh của người đã đi qua ranh giới giữa sự sống và cái chết.
Rời chiến trường, Nguyễn Văn Lợi bắt đầu lại cuộc đời với một chân còn lại và nghị lực chưa bao giờ vơi cạn. Được Đảng, Nhà nước tạo điều kiện học nghề may tại Quân khu 4, ông gặp người bạn đời của mình, xây dựng gia đình, nuôi các con trưởng thành và trở thành những công dân có ích cho xã hội. Với ông, hạnh phúc hôm nay là được chứng kiến quê hương từng ngày đổi mới, những con đường rộng mở, làng quê khởi sắc và tiếng trẻ thơ cắp sách đến trường trong hòa bình. Đó cũng chính là điều mà thế hệ ông đã đánh đổi bằng tuổi xuân, máu xương và cả một phần thân thể để gìn giữ.
Buổi gặp gỡ khép lại khi nắng đã lên cao. Trước lúc chia tay, người lính đặc công năm xưa vẫn giữ nụ cười hiền hậu. Ông không nhắc nhiều đến chiến công hay những mất mát của bản thân, mà chỉ mong thế hệ trẻ biết trân trọng giá trị của hòa bình, không ngừng học tập, rèn luyện, sống có trách nhiệm với gia đình, xã hội và Tổ quốc; đồng thời luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, góp phần bảo vệ những thành quả mà bao thế hệ cha anh đã đánh đổi bằng máu xương mới giành được.
Rời căn nhà nhỏ của thương binh Nguyễn Văn Lợi, điều đọng lại không chỉ là ký ức về một thời hoa lửa, mà còn là hình ảnh một người lính trở về từ chiến tranh với một chân còn lại và 13 mảnh đạn vẫn nằm trong cơ thể. Hơn nửa thế kỷ sau ngày rời chiến trường, ông vẫn lặng lẽ sống, lao động, gìn giữ niềm tin và kể lại những câu chuyện có thật bằng chính cuộc đời mình. Những câu chuyện ấy không khơi gợi nỗi đau của quá khứ, mà nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình, độc lập, tự do – những điều được đánh đổi bằng tuổi xuân và máu xương của biết bao người lính. Đó cũng chính là di sản vô giá mà những người trở về từ chiến tranh gửi lại cho hôm nay và mai sau.
Bài, ảnh: NGUYỄN HẠNH
Phóng viên Trung tâm cung ứng Dịch vụ công xã Hưng Nguyên Nam



