phòng chống Tự diễn biến, tự chuyển hóa

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Văn hóa Việt Nam - “thành lũy mềm” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

     Phát huy “sức mạnh mềm” văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV là yêu cầu chiến lược để phát triển đất nước bền vững, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc lịch sử, hạ thấp biểu tượng dân tộc, cổ súy lối sống thực dụng, làm phai nhạt bản sắc. Vì vậy, cần phát huy văn hóa thành nguồn lực nội sinh, điểm tựa niềm tin và “lá chắn mềm” của quốc gia.

 

Giữa những làn sóng toàn cầu hóa, dòng chảy của công nghệ, thương mại và thông tin phát triển mạnh mẽ, văn hóa vẫn là yếu tố cốt lõi của mỗi dân tộc. Lịch sử Việt Nam cho thấy một quy luật rõ ràng: một dân tộc có thể gặp khó khăn về kinh tế, chiến tranh hay thiên tai, nhưng chỉ thật sự suy yếu khi đánh mất hồn cốt văn hóa, niềm tin và phương hướng giá trị. Vì thế, trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn đặt văn hóa ở vị trí đặc biệt. Văn hóa không đứng sau phát triển; văn hóa đứng ở phần sâu nhất của phát triển, quyết định chất lượng con người, độ bền của chế độ và sức sống lâu dài của dân tộc.

Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi.

 

Bước vào kỷ nguyên mới, yêu cầu ấy càng cấp bách. Toàn cầu hóa, internet, trí tuệ nhân tạo và nền tảng số vừa mở ra cơ hội lan tỏa hình ảnh Việt Nam, vừa tạo không gian để thông tin xấu độc, sản phẩm phản văn hóa và lối sống lệch chuẩn xâm nhập với tốc độ rất nhanh. Sự chống phá hôm nay không chỉ công kích trực diện trên bình diện chính trị, mà thường đi vòng qua lịch sử, biểu tượng, thị hiếu, ngôn ngữ và cảm xúc để làm con người hoài nghi quá khứ, lạnh nhạt với truyền thống, từ đó bào mòn niềm tin đối với con đường mà dân tộc đã lựa chọn.

Trong bối cảnh đó, tinh thần Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam gợi mở một tầm nhìn rõ: văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn phải thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia. Nhận thức ấy có ý nghĩa trực tiếp đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bởi lẽ, niềm tin chính trị khó bền vững nếu xã hội thiếu điểm tựa giá trị; còn công cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái sẽ khó hiệu quả nếu chúng ta không tạo được sức hấp dẫn của cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong đời sống hằng ngày.

Giữ hồn cốt dân tộc, giữ vững chiều sâu tư tưởng.

Quan điểm của Đảng ta về văn hóa là nhất quán, xuyên suốt nhưng luôn được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng. Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng đã xác định văn hóa là một mặt trận, người làm công tác văn hóa là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cách nhìn đó là kết tinh của nhận thức khoa học và kinh nghiệm lịch sử, muốn giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ mới, trước hết phải giải phóng con người khỏi nô lệ tinh thần, phải làm cho dân tộc biết mình là ai, vì sao phải đứng lên và vì sao phải giữ vững con đường đã lựa chọn.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta ngày càng nhận thức sâu hơn vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”; Người cũng chỉ rõ “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Hai luận điểm ấy cho thấy văn hóa không phải phần trang trí cho đời sống, càng không phải lĩnh vực đứng bên lề chính trị và kinh tế. Văn hóa định hình nhân cách, dẫn dắt hành vi, nuôi dưỡng khát vọng, làm nên bản lĩnh của một dân tộc và tạo ra sức bền của một chế độ.

Bước vào thời kỳ đổi mới, nhận thức ấy tiếp tục được phát triển toàn diện hơn. Đảng ta khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển; xây dựng và phát triển văn hóa phải gắn chặt với xây dựng con người; hội nhập nhưng không hòa tan. Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh các giá trị văn hóa phải thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đây là sự chuyển mạnh từ tư duy “coi trọng văn hóa” sang “biến văn hóa thành sức mạnh hiện thực”, biến bản sắc, hệ giá trị, hình ảnh đất nước và phẩm chất con người Việt Nam thành lợi thế phát triển, nguồn lực nội sinh và nền tảng tạo dựng uy tín quốc gia.

Văn hoá ở khắp trên các chiến trường.

 

Hiểu một cách ngắn gọn, sức mạnh mềm về văn hóa là khả năng chinh phục lòng người bằng giá trị, sự hấp dẫn, niềm tin và tính chính danh được tích lũy trong thực tiễn. Nó không dựa chủ yếu vào cưỡng chế hay áp đặt, mà làm cho người khác tôn trọng, đồng cảm và tự nguyện tiếp nhận. Nhưng sức mạnh mềm không phải là tuyên truyền đơn thuần. Tuyên truyền có thể tạo hiệu ứng nhanh, song nếu không có giá trị thật, con người thật, hành động thật thì hiệu ứng ấy rất ngắn. Sức mạnh mềm chỉ được tạo ra khi cái đúng được sống trong đời sống, khi lời nói đi đôi với việc làm, khi hình ảnh quốc gia được chứng thực bằng chất lượng con người và chất lượng văn hóa ứng xử.

Nhìn từ góc độ đó, có thể thấy vì sao văn hóa gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; song để hệ tư tưởng ấy đi vào cuộc sống, nó phải thấm qua môi trường văn hóa, qua giáo dục, ngôn ngữ, chuẩn mực ứng xử, ký ức lịch sử và niềm tin cộng đồng.

Nếu môi trường văn hóa lành mạnh, con người được nuôi dưỡng bởi lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến, thì những luận điệu xuyên tạc khó có đất sống. Ngược lại, nếu xã hội bị chi phối bởi chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống thực dụng, tâm lý hoài nghi và sự đứt gãy truyền thống, thì cái sai rất dễ đội lốt cái mới, còn sự xuyên tạc dễ được tiếp nhận như một thứ “phản biện”.

Chống phá về tư tưởng nhiều khi bắt đầu từ sự bào mòn văn hóa. Các thế lực thù địch không phải lúc nào cũng mở đầu bằng việc công kích trực diện chủ nghĩa Mác - Lênin hay phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Nhiều khi chúng đi con đường vòng, làm cho người trẻ xấu hổ với lịch sử dân tộc, coi nhẹ tiếng mẹ đẻ, xem thường gia đình, xa lạ với cộng đồng, tôn thờ hưởng thụ rồi dần dần tách họ khỏi nền tảng tinh thần của dân tộc.

Khi gốc rễ văn hóa bị lung lay, niềm tin chính trị cũng bị bào mòn theo. Vì thế, bảo vệ văn hóa dân tộc không chỉ là giữ gìn lễ hội, di sản hay phong tục; sâu xa hơn là giữ vững hệ quy chiếu giá trị làm nên bản lĩnh dân tộc Việt Nam và sức mạnh tinh thần của chế độ.

Trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam vẫn không bị đồng hóa, bởi trong lòng dân tộc luôn tồn tại một nền văn hóa bền bỉ, một tiếng nói riêng, ý thức cộng đồng riêng và khát vọng độc lập không bị dập tắt. Trong các cuộc kháng chiến giữ nước, vũ khí vật chất là quan trọng, nhưng sức mạnh quyết định thắng lợi còn là lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết, nghĩa đồng bào và ý chí độc lập.

Đó chính là sức mạnh mềm ở dạng sâu nhất, sức mạnh của chân lý, chính nghĩa, ký ức lịch sử và bản lĩnh văn hóa được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Ngày nay, thế giới bước vào cuộc cạnh tranh quyết liệt không chỉ về vốn, công nghệ hay sức mạnh quân sự, mà còn về mô hình phát triển, bản sắc văn hóa, uy tín quốc gia và khả năng dẫn dắt giá trị. Tinh thần đó được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 80-NQ/TW: nếu kinh tế quyết định năng lực đi nhanh thì văn hóa quyết định khả năng đi xa. Phát triển không thể bền vững nếu chỉ dựa vào tăng trưởng vật chất mà thiếu bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin và trách nhiệm cộng đồng.

Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, các hình thái chiến tranh mới, an ninh mạng và an ninh phi truyền thống đặt ra yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Trong bối cảnh ấy, văn hóa không thể đứng ngoài chiến lược quốc gia.

Báo cáo chính trị Đại hội XIV nêu yêu cầu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; xây dựng báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; chủ động quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra thế giới.

Điểm đáng chú ý là văn hóa được đặt trong quan hệ tổng thể với phát triển nhanh, bền vững. Văn hóa không chỉ để “giữ gìn”, mà còn để “phát huy”; không chỉ để “bảo tồn”, mà còn để “sáng tạo”; không chỉ để “chống xâm nhập”, mà còn để tạo sức hấp dẫn quốc gia. Một di sản nếu được bảo tồn tốt, kể chuyện tốt, số hóa tốt, kết nối với du lịch, giáo dục, công nghiệp sáng tạo và ngoại giao văn hóa sẽ trở thành nguồn lực phát triển và niềm tự hào sống động. Một hình ảnh người lính giúp dân trong bão lũ, cứu hộ ngư dân trên biển, giữ lễ tiết trong đối ngoại quốc phòng, nếu được truyền thông đúng cách, sẽ trở thành bằng chứng thuyết phục về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Sức mạnh mềm văn hóa có ba tầng tác động. Tầng thứ nhất là nhận thức: Làm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân hiểu đúng vì sao Đảng ta lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; vì sao độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường hợp quy luật và hợp lòng dân. Tầng thứ hai là tình cảm: Làm cho mỗi người thấy yêu, tin, tự hào và có trách nhiệm với danh dự đất nước. Tầng thứ ba là hành động: Biến niềm tin thành việc làm hằng ngày, từ chấp hành pháp luật, giữ kỷ luật, làm việc có trách nhiệm đến ứng xử văn minh trên không gian mạng.

Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội được nêu tại Đại hội XIV là bằng chứng về năng lực lãnh đạo, quản trị, huy động nguồn lực và chăm lo con người của chế độ ta. Nhưng thành tựu vật chất chỉ bền khi đi kèm nền tảng văn hóa lành mạnh, đạo đức xã hội được chấn hưng và niềm tin được củng cố.

Từ đây có thể khẳng định, phát huy sức mạnh mềm về văn hóa theo tinh thần Đại hội XIV không phải đề tài phụ trợ hay câu chuyện tuyên truyền chung chung. Đó là vấn đề cốt lõi của phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc hôm nay chính là làm cho chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, ý thức kỷ luật, lòng nhân ái, đoàn kết, trung thực, trách nhiệm và khát vọng vươn lên trở thành năng lượng tinh thần thường trực của xã hội.

Nhận diện đúng âm mưu “phá gốc nền văn hóa dân tộc” để chủ động giữ thế trận tư tưởng

Từ cơ sở nhận thức văn hóa là chiều sâu tư tưởng của chế độ, yêu cầu đặt ra tiếp theo là phải nhận diện đúng đối tượng, bản chất và phương thức chống phá.

Các thế lực thù địch hiểu rằng một dân tộc khi còn giữ được ký ức lịch sử, biểu tượng thiêng liêng, đạo lý gia đình, lòng tự trọng dân tộc và niềm tin vào tương lai thì không dễ bị khuất phục. Vì vậy, chúng ngày càng đẩy mạnh chiến lược chống phá bằng văn hóa. Mục tiêu là làm rối loạn chuẩn mực, đảo lộn thước đo giá trị, xóa nhòa ranh giới đúng - sai, tốt - xấu, từ đó tách con người khỏi cộng đồng, tách thế hệ trẻ khỏi truyền thống và tách xã hội khỏi nền tảng tinh thần vốn nâng đỡ chế độ.

Thủ đoạn thứ nhất là xuyên tạc lịch sử, giải thiêng biểu tượng và phủ nhận thành quả cách mạng.

Đây là con đường nguy hiểm vì lịch sử là cội nguồn của niềm tin. Trên không gian mạng hiện nay, những nội dung cắt xén sự kiện, giễu cợt biểu tượng thiêng liêng, đánh tráo bản chất cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, hạ thấp ý nghĩa của độc lập, hòa bình và chủ quyền có thể lan truyền nhanh chóng. Chúng cố biến sự thật lịch sử thành “một góc nhìn”, biến sự hy sinh thành “lựa chọn cá nhân”, biến chính nghĩa thành “tranh chấp quan điểm”. Nếu không tỉnh táo, người tiếp nhận rất dễ rơi vào hoài nghi rồi trượt dài tới phủ nhận.

Thủ đoạn thứ hai là cổ súy lối sống thực dụng, cá nhân cực đoan và thước đo thành công lệch lạc.

Đây là cách chống phá không ồn ào nhưng gặm nhấm mạnh. Nó làm cho một bộ phận người, nhất là giới trẻ, quen đánh giá con người bằng tiền bạc, sự nổi tiếng, lượt xem hay mức độ hưởng thụ, trong khi coi nhẹ danh dự, nghĩa vụ công dân và đạo lý cộng đồng. Khi lối sống thực dụng trở thành thước đo, những giá trị như trung nghĩa, thủy chung, hiếu học, tiết kiệm, đoàn kết, biết ơn, sống vì cộng đồng dễ bị xem là cũ kỹ.

Thủ đoạn thứ ba là thúc đẩy lai căng thiếu chọn lọc, làm phai nhạt tiếng Việt, thẩm mỹ Việt và lối sống Việt.

Hội nhập quốc tế là tất yếu, nhưng hội nhập khác với hòa tan. Có những luồng ảnh hưởng đẩy con người vào tâm thế mặc cảm với văn hóa bản địa, coi cái ngoại lai luôn cao hơn cái của mình, coi việc cắt đứt với truyền thống là dấu hiệu của hiện đại. Từ lời nói, âm nhạc, thói quen tiêu dùng đến cách ứng xử gia đình và cộng đồng, nếu thiếu bản lĩnh văn hóa, chúng ta dễ rơi vào mô phỏng hỗn độn, vay mượn hình thức và đánh mất tiêu chuẩn thẩm mỹ lành mạnh.

Thủ đoạn thứ tư là lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, tự do sáng tạo hay quyền cá nhân để kích động đối đầu giữa các giá trị.

Bản chất vấn đề không nằm ở việc đề cập quyền con người hay tự do, mà ở chỗ tuyệt đối hóa các quyền riêng lẻ, tách chúng khỏi trách nhiệm xã hội, bối cảnh lịch sử - văn hóa và lợi ích quốc gia. Từ đó, chúng kích động tâm lý đối đầu giữa cá nhân và cộng đồng, giữa bản sắc dân tộc với xu hướng toàn cầu, làm cho người ta ngộ nhận rằng giữ gìn chuẩn mực là bảo thủ, còn phủ nhận truyền thống mới là tiến bộ.

Thủ đoạn thứ năm là sử dụng không gian số làm đường dẫn chủ yếu cho quá trình xâm thực văn hóa.

Chỉ bằng vài chục giây video, vài dòng trạng thái, vài hình ảnh cắt ghép, những thông điệp lệch chuẩn có thể lan đi rất nhanh. Nhiều nội dung xấu độc được đóng gói dưới hình thức hài hước, tâm sự đời thường hoặc “góc nhìn cá nhân”, khiến người tiếp nhận mất cảnh giác. Bạo lực ngôn từ, xúc phạm danh dự, bịa đặt, kích động hằn thù, cổ súy vô cảm nếu lặp đi lặp lại sẽ dần hình thành môi trường văn hóa số độc hại, nơi cái giật gân lấn át sự thật, cái cực đoan lấn át sự tỉnh táo.

Tác hại của quá trình “làm xói mòn nền văn hóa dân tộc” rất sâu. Trước hết, nó làm khủng hoảng niềm tin xã hội. Khi biểu tượng bị bôi nhọ, lịch sử bị nghi ngờ, chuẩn mực bị đảo lộn, con người dễ rơi vào trạng thái không còn biết tin vào đâu. Tiếp đó, nó làm suy giảm sức đề kháng tinh thần của cộng đồng. Một xã hội thờ ơ với truyền thống, gia đình, danh dự và trách nhiệm công dân sẽ khó đoàn kết khi đối mặt với thử thách lớn. Sau cùng, nó tạo khoảng trống để các quan điểm sai trái len vào và khoác áo “tư duy mới”, “phản biện”, “khai phóng”.

Nhưng chống phá từ bên ngoài chỉ là một vế của vấn đề. Vế còn lại nằm trong chính chúng ta: có lúc xem nhẹ văn hóa, làm văn hóa theo phong trào, thiếu đầu tư chiều sâu; giáo dục lịch sử còn khô cứng; đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội có biểu hiện xuống cấp; ứng xử trên mạng thiếu chuẩn mực; một số cán bộ, đảng viên nói nhiều về giá trị nhưng nêu gương chưa tương xứng. Nếu “xây” không tốt từ bên trong, thì “chống” từ bên ngoài sẽ có thêm khe hở để xâm nhập.

Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV chỉ ra điểm nghẽn: Văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của phát triển; hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam chậm được làm rõ. Muốn chống hiệu quả âm mưu “làm xói mòn nền văn hóa dân tộc”, chúng ta không thể chỉ lên án thủ đoạn của đối phương, mà phải khắc phục những bất cập của chính mình. Khi chuẩn mực chưa rõ, cái đúng khó lan tỏa; khi nội dung tích cực chưa đủ hấp dẫn, nội dung phản cảm dễ chiếm lĩnh công chúng.

Vì vậy, nhận diện thủ đoạn chống phá trên lĩnh vực văn hóa không phải để bi quan hay khép kín, mà để chủ động giữ thế trận. Hội nhập càng sâu càng phải có bản lĩnh văn hóa mạnh. Tiếp thu cái mới càng nhiều càng cần bộ lọc giá trị rõ. Chỉ khi nhìn rõ cả mặt ngoài lẫn mặt trong của vấn đề, chúng ta mới chuyển từ thế bị động đối phó sang chủ động kiến tạo, xây môi trường tốt để cái xấu khó sống, làm cho giá trị Việt Nam đủ hấp dẫn để cái lệch chuẩn không dễ lôi kéo.

Biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh, thành lợi thế phát triển và “lá chắn mềm” của quốc gia

Trên cơ sở nhận diện rõ những thủ đoạn xâm thực văn hóa và những hạn chế từ bên trong, cần xác định và thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp sau:

Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức và nâng tầm hành động trong toàn hệ thống chính trị về vị trí chiến lược của văn hóa.

Nói đến phát huy sức mạnh mềm không được dừng ở diễn đàn, khẩu hiệu hay hoạt động bề nổi. Phải quán triệt sâu sắc rằng đây là yêu cầu trực tiếp của phát triển nhanh, bền vững và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trên không gian tư tưởng - văn hóa. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị các cấp phải xem xây dựng văn hóa là một phần hữu cơ của nhiệm vụ chính trị, chứ không phải việc làm thêm. Ở đâu coi nhẹ văn hóa, ở đó dễ phát sinh lệch chuẩn; ở đâu làm tốt văn hóa, ở đó niềm tin bền hơn, kỷ luật chắc hơn, nội lực mạnh hơn.

Các thủ đoạn xuyên tạc chống phá của các thế lực thù địch luôn tinh vi, xảo quyệt.

 

Thứ hai, khẩn trương cụ thể hóa và đưa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới vận hành hiệu quả. Đây là “la bàn” của phát triển.

Nghị quyết số 80-NQ/TW nêu các giá trị quốc gia như hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc; đồng thời nhấn mạnh các phẩm chất của con người Việt Nam như yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Vấn đề còn lại là làm cho những giá trị ấy đi ra khỏi văn bản để bước vào đời sống: thành nội dung giáo dục, thành chuẩn mực ứng xử trong gia đình, nhà trường, cơ quan, đơn vị; thành yêu cầu tự rèn luyện trong môi trường số và thành thước đo của văn minh cộng đồng.

Thứ ba, kết hợp thật chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trên mặt trận văn hóa - tư tưởng.

“Xây” là xây con người, môi trường văn hóa, nội dung tốt, sản phẩm đẹp, niềm tin và hình ảnh con người Việt Nam văn minh, yêu chuộng hòa bình. “Chống” là đấu tranh với xuyên tạc lịch sử, phản văn hóa, lệch chuẩn giá trị, sản phẩm độc hại, thông tin xấu độc và những biểu hiện làm suy yếu nền tảng tinh thần của xã hội.

Hai mặt này phải đi cùng nhau. Chỉ chống mà không xây thì dễ rơi vào phản ứng bị động, chữa cháy từng vụ việc. Chỉ xây mà thiếu chống thì cái tốt bị nhiễu loạn, bị lấn át. Muốn giữ vững nền tảng tư tưởng, phải chủ động tạo ưu thế cho cái đúng, cái đẹp, cái tử tế, đồng thời kiên quyết không để cái xấu, cái độc, cái sai bình thường hóa trong đời sống xã hội.

Thứ tư, phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, văn hóa số và năng lực kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ hiện đại.

Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 29/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 80-NQ/TW cho thấy Đảng, Nhà nước không nhìn văn hóa chỉ ở phương diện bảo tồn, mà còn ở phương diện tạo giá trị mới, thị trường mới và ảnh hưởng mới. Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, phấn đấu vào top 3 ASEAN và top 30 thế giới về chỉ số sức mạnh mềm quốc gia; đến năm 2045 công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo phấn đấu đóng góp 9% GDP. Những chỉ tiêu đó cho thấy sức mạnh mềm không còn là khái niệm trừu tượng, mà đã được đặt trong một chiến lược phát triển cụ thể.

Muốn đi theo hướng ấy, phải coi chuyển đổi số trong văn hóa là một đột phá thực chất. Không thể để kho tàng lịch sử, di sản, văn học, nghệ thuật, ký ức chiến tranh cách mạng, biển đảo, biên giới, hình tượng người lao động và người chiến sĩ tồn tại như tài nguyên thô nhưng không được chuyển hóa thành sách số, phim, bảo tàng số, triển lãm trực tuyến, trò chơi giáo dục và nội dung ngắn đa nền tảng.

Trong thời đại một video vài chục giây có thể tác động đến hàng triệu người, ai làm chủ công nghệ sản xuất nội dung, nền tảng phân phối, dữ liệu và bản quyền thì người đó có lợi thế lớn trong định hình nhận thức công chúng. Vì vậy, phát huy sức mạnh mềm văn hóa ngày nay phải gắn với công nghệ, sáng tạo và kỹ thuật kể chuyện hiện đại.

Thứ năm, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ cơ sở.

Sức mạnh mềm không được tạo ra chủ yếu ở hội trường hay trong báo cáo, mà hình thành từ đời sống hằng ngày. Gia đình phải thực sự là nơi nuôi dưỡng nhân cách, nền nếp và trách nhiệm. Nhà trường phải dạy chữ nhưng đồng thời dạy làm người, lòng yêu nước, ý thức pháp luật, văn hóa số và năng lực phân biệt thật - giả, đúng - sai.

Nét mới trong đời sống văn hoá.

 

Cơ quan, đơn vị phải có kỷ cương, chuẩn mực, môi trường tôn trọng danh dự, hiệu quả công việc và sự nêu gương. Không gian mạng cũng phải được xem là một bộ phận của môi trường văn hóa; ở đó cần làm trong sạch bằng pháp luật, công nghệ, nhưng trước hết bằng sức đề kháng xã hội và thói quen ứng xử văn minh của mỗi công dân.

Thứ sáu, đặc biệt coi trọng văn hóa nêu gương và xây dựng trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong lực lượng vũ trang.

Xã hội không tin vào lời kêu gọi đạo đức nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm. Người dân không thể được giáo dục về kỷ cương nếu bộ máy công quyền còn hình thức, quan liêu, vô cảm hay né tránh trách nhiệm. Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh phải phát huy giá trị “Bộ đội Cụ Hồ”, văn hóa nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức gắn với xây dựng văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị.

Điều đó gợi mở rất rõ, xây dựng sức mạnh mềm của quốc gia trước hết phải bắt đầu từ sự gương mẫu, liêm chính, tận tụy và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ; từ hình ảnh người chiến sĩ bản lĩnh, kỷ luật, nhân văn, gần dân.

Ở cấp cơ sở, vấn đề này càng rõ. Ở mỗi chi bộ, cơ quan, trường học, đơn vị sự nghiệp nói chung và lực lượng vũ trang nói riêng, nếu cán bộ chủ trì thật sự gương mẫu, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng được làm bằng nội dung sống động, môi trường văn hóa được chăm lo thường xuyên, thì những biểu hiện dao động, lệch chuẩn, phát ngôn tùy tiện, hành vi phản cảm trên mạng hay tâm lý thờ ơ trước các vấn đề lớn của đất nước sẽ giảm đi.

Ngược lại, nơi nào sinh hoạt chính trị khô cứng, giáo dục giá trị rập khuôn, nêu gương yếu, hoạt động văn hóa nghèo nàn, nơi ấy dễ xuất hiện khoảng trống nhận thức để thông tin xấu độc chen vào. Điều này đặc biệt đúng với thanh niên - lực lượng nhạy với cái mới, mạnh về công nghệ nhưng cũng dễ bị tác động nếu thiếu điểm tựa giá trị vững chắc.

Đối với lực lượng vũ trang, phát huy sức mạnh mềm văn hóa còn có ý nghĩa thiết thực trong xây dựng thế trận lòng dân. Một đơn vị mạnh không chỉ ở vũ khí, trang bị hay thành tích huấn luyện, mà còn ở chất lượng văn hóa nội bộ, mối quan hệ máu thịt với nhân dân, tinh thần nhân văn khi thực hiện nhiệm vụ và sự chuẩn mực khi sử dụng mạng xã hội.

Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một giá trị mềm bền vững vì đó không phải hình ảnh được tô vẽ bằng khẩu hiệu, mà được gây dựng bằng bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ sống giản dị, gần dân, trọng danh dự, dám hy sinh và luôn đặt lợi ích Tổ quốc, Nhân dân lên trên hết. Giữ cho hình ảnh ấy tiếp tục sáng lên trong điều kiện mới chính là góp phần trực tiếp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng sức thuyết phục từ thực tiễn.

Một yêu cầu nữa là phải biết lượng hóa sức mạnh mềm bằng những kết quả cụ thể. Không thể nói phát huy văn hóa mà môi trường cơ sở vẫn ô nhiễm bởi bạo lực ngôn từ, tin giả và sự vô cảm. Không thể nói bảo vệ bản sắc mà sản phẩm văn hóa lành mạnh lại yếu thế trước nội dung phản cảm, rẻ tiền. Không thể nói giáo dục truyền thống mà người trẻ vẫn thấy lịch sử xa lạ, khô cứng.

Bởi vậy, phải gắn các chủ trương lớn với chương trình, sản phẩm và mô hình cụ thể: giáo dục giá trị cho từng nhóm đối tượng; sản phẩm số về lịch sử, di sản, biển đảo; bộ quy tắc ứng xử trong cơ quan, trường học, đơn vị; cơ chế bảo vệ bản quyền và khuyến khích sáng tạo; lực lượng nòng cốt đấu tranh trên không gian mạng.

Phát huy sức mạnh mềm về văn hóa theo tinh thần Đại hội XIV phải được triển khai bằng một tư duy mới, không xem văn hóa là phần mềm yếu, mà là chiều sâu bền vững của sức mạnh quốc gia; không xem bảo vệ nền tảng tư tưởng chỉ là nhiệm vụ phản bác, mà là nhiệm vụ xây dựng từ gốc; không xem truyền thống là thứ để trưng bày, mà là nguồn lực để sáng tạo hiện tại và mở đường cho tương lai.

Phát huy vai trò của “sức mạnh mềm” về văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp bách trước mắt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây không phải sự lựa chọn giữa phát triển kinh tế hay phát triển văn hóa. Bản chất của vấn đề là phải nhìn đúng: văn hóa chính là chiều sâu của phát triển, là phần gốc của sức mạnh dân tộc, là nơi tạo ra bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin và khả năng phát triển của đất nước. Một quốc gia có thể đi nhanh bằng vốn, công nghệ, thể chế; nhưng muốn đi vững và đúng hướng, nhất thiết phải có nền tảng văn hóa đủ dày và con người đủ bản lĩnh.

Văn hoá Bộ đội Cụ Hồ.

 

Âm mưu “làm xói mòn nền văn hóa dân tộc” vì thế phải được nhìn nhận như một thủ đoạn chống phá đặc biệt nguy hiểm. Chúng không chỉ muốn làm lệch thị hiếu hay thay đổi lối sống bề mặt; sâu xa hơn, chúng muốn làm mòn trí nhớ lịch sử, đứt gãy truyền thống, rối loạn thước đo giá trị và bào mòn niềm tin vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Chống lại thủ đoạn ấy không thể chỉ bằng sự phẫn nộ nhất thời hay vài đợt tuyên truyền ngắn hạn. Phải bằng một chiến lược lâu dài, đồng bộ và đủ chiều sâu, trong đó “xây” giữ vai trò gốc, “chống” giữ vai trò thường xuyên và con người là trung tâm.

Từ tinh thần Đại hội XIV, có thể rút ra: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn mới không chỉ là bảo vệ một hệ thống quan điểm lý luận đúng đắn, mà còn là bảo vệ nền tảng tinh thần của xã hội, bảo vệ mạch nguồn văn hóa làm nên sức sống dân tộc và bảo vệ hệ giá trị dẫn dắt hành vi con người Việt Nam trong thời đại số. Bởi vậy, nhiệm vụ không dừng lại ở việc phê phán cái sai hay phản bác thông tin xuyên tạc. Điều quan trọng hơn là phải làm cho cái đúng trở nên thuyết phục, cái tốt trở nên đáng trọng, cái đẹp trở nên lan tỏa, cái tử tế trở thành chuẩn mực được xã hội bảo vệ.

Khi văn hóa được đặt đúng vị trí, khi lịch sử được kể lại bằng sự thật và cảm hứng, khi truyền thống được tiếp nối bằng sáng tạo, khi người trẻ thấy tự hào về dân tộc mình, khi cán bộ, đảng viên thật sự trọng danh dự và nêu gương, khi người chiến sĩ tiếp tục làm sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ bằng bản lĩnh, kỷ luật và nhân văn, thì đó chính là lúc sức mạnh mềm của Việt Nam được bồi đắp mạnh mẽ nhất. Và cũng chính là lúc âm mưu làm xói mòn nền văn hóa dân tộc bị đẩy lùi từ gốc, nền tảng tư tưởng của Đảng được giữ vững bằng niềm tin xã hội sâu bền, còn đất nước có thêm điểm tựa tinh thần để vững bước trong kỷ nguyên mới.

Bài, ảnh: NGUYỄN ĐÌNH THÔNG

Tiểu đoàn 7, Trường Sĩ quan Chính trị

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Hà Nội.

3. Chính phủ (2024), Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 29/8/2024 về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Hà Nội.

4. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 2.

8. Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 3.

9. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội./.


Các tin khác

Tin đọc nhiều