Thực trạng công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa trên địa bàn Quân khu 4 và những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo cán bộ hậu cần, kỹ thuật ở Học viện Hậu cần hiện nay
Những năm gần đây, dưới tác động của biến đổi khí hậu, ở nước ta tình hình thiên tai diễn biến hết sức cực đoan, dị thường, phá vỡ quy luật tự nhiên. Trên cả nước, đã xuất hiện nhiều đợt mưa lũ lịch sử, vượt kỷ lục trong nhiều thập kỷ qua, gây ngập úng nghiêm trọng trên diện rộng; một số cơn bão, áp thấp nhiệt đới có hướng di chuyển phức tạp, khó dự báo, cường độ rất mạnh; tình hình sạt lở đất, lũ quét trở thành thảm họa ở nhiều khu vực, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc và Trung bộ; Đại dịch bệnh Covid-19 xuất hiện, để lại hậu quả vô cùng nặng nề trên mọi lĩnh vực… Thảm họa, thiên tai, dịch bệnh đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản làm ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước cũng như đời sống của Nhân dân.

Do đó, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại về người, tài sản và ổn định đời sống của Nhân dân là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt. Theo quan điểm của Đảng, công tác phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa không chỉ là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách và thường xuyên mà còn là “trọng điểm chiến lược” trong chính sách phát triển bền vững của đất nước, là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ “ứng phó thụ động” sang “chủ động phòng ngừa”. Trong đó công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục thiên tai, thảm họa là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của ngành Hậu cần - Kỹ thuật (HC – KT) các cấp trong Quân đội. Với khối lượng bảo đảm lớn cho nhiều đối tượng, đa dạng về chủng loại vật chất, trang bị; điều kiện bảo đảm khó khăn, phức tạp, yêu cầu khẩn trương và tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn. Do đó, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị, những người làm công tác bảo đảm phải luôn chủ động, tích cực, tổ chức chuẩn bị chặt chẽ, chu đáo, sẵn sàng phục vụ Nhân dân và bảo đảm hiệu quả, an toàn cho các lực lượng thực hiện nhiệm vụ khi có tình huống.
Thời gian qua, công tác bảo đảm HC, KT cho phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa đã có nhiều đổi mới và phát triển, bảo đảm phù hợp với cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước về huy động, sử dụng nhân lực, vật lực khi có tình huống xảy ra. Quán triệt, thực hiện nghiêm tư tưởng chỉ đạo “chủ động, kịp thời, hiệu quả” và phương châm “4 tại chỗ”, công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa được các đơn vị, địa phương tổ chức hết sức chủ động, duy trì chặt chẽ, hiệu quả, góp phần giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản; giúp đỡ nhân dân sớm ổn định cuộc sống.
Quân khu 4, nằm trên địa bàn các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và thành phố Huế, với 483 đơn vị hành chính cấp xã, phường (sau thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp); quy mô dân số trên 13,08 triệu người; có diện tích tự nhiên 51.242 km2, trong đó đồi núi chiếm 2/3. Phía Bắc giáp tỉnh Sơn La (Quân khu 2), tỉnh Phú Thọ, Ninh Bình (Quân khu 3); Phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng (Quân khu 5); Phía Tây giáp với 7 tỉnh của nước bạn Lào (Hủa-phăn, Xiêng-khoảng, Bô-ly-khăm-xay, Khăm-muộn, Xa-văn-na-khệt, Sa-la-van và Sê-công) có đường biên giới dài 1.337,038 km; Phía Đông giáp Biển Đông, có bờ biển dài 722 km với 30 hòn đảo lớn nhỏ, cách bờ từ 1 đến 32 km. Địa hình dài và hẹp, có nhiều sông, hồ và đập lớn (hơn 70 con sông và 68 hồ, đập); nhiều suối ngắn, có độ dốc cao, dễ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất khi có mưa lớn; vùng đồng bằng ven biển nhiều nơi thấp, trũng, dễ bị ngập úng. Các tuyến đê, hồ đập cơ bản xây dựng từ thập niên 70, 80, tuy đã được đầu tư nâng cấp nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ sạt, vỡ và mất an toàn. Hệ thống giao thông nông thôn, nhất là các xã vùng núi chưa được đầu tư xây dựng cơ bản, nhiều tuyến đường, cầu cống còn nhỏ hẹp, tạm bợ, dễ bị cuốn trôi, gây ngập lụt, chia cắt và cô lập khi có mưa lớn kéo dài.
Những năm gần đầy, các tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu vẫn là vùng trọng điểm của mưa bão, ngập lụt; không chỉ đối mặt với bão, lũ mang tính chất truyền thống, mà còn chịu tác động của hiện tượng thời tiết cực đoan như siêu bão (bão Noru năm 2022; bão Kajiki và Bualoi năm 2025), các đợt mưa lớn lịch sử, gây lũ quét, sạt lở đất nghiêm trọng ở nhiều nơi (ở Mường Xén/Nghệ An, Kỳ Anh/ Hà Tĩnh). Bên cạnh đó, vào mùa hè khí hậu hanh khô, nhiệt độ trung bình cao (40-450C), cộng với ảnh hưởng của gió Lào đã gây ra hạn hán và cháy rừng. Trong 5 năm từ 2021 đến 2025, trên địa bàn Quân khu 4 đã xảy ra hơn 652 vụ liên quan đến công tác cứu hộ, cứu nạn, trong đó: Tai nạn (đường không, đường biển, đường bộ) 112 vụ và hơn 540 sự cố, tai nạn khác. Làm chết và mất tích hơn 987 người, bị thương 352 người; khoảng 1.571 ha rừng bị cháy; trên 45.382 ngôi nhà bị tốc mái, sập đổ; trên 14.594 ngôi nhà bị ngập lụt; ngập úng, hư hại khoảng 161.024 ha hoa màu, cây công nghiệp; làm chết hoặc cuốn trôi hơn 147.269 triệu con gia súc, gia cầm và hàng nghìn lồng, bè nuôi trồng thủy sản; chìm 25 tàu, xuồng … Tổng thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng.

Nhận thức đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của LLVT Quân khu nói chung, ngành Hậu cần – Kỹ thuật nói riêng đối với công tác phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, cứu hộ - cứu nạn. Thời gian qua, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, quyết liệt và hiệu quả công tác bảo đảm HCKT cho nhiệm vụ phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết số 689-NQ/QUTW ngày 10/10/2014 của Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 436-NQ/ĐU ngày 26/12/2014 của Đảng ủy Quân khu về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, cứu hộ cứu nạn đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nhất là Luật Phòng chống thiên tai năm 2013, được sửa đổi bổ sung năm 2020; Luật Phòng thủ dân sự năm 2023; Nghị định 66/2014/NĐ-CP ngày 04/7/2014 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Phòng chống thiên tai; Nghị định số 30/2017/NĐ-CP ngày 21/3/2017 quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN; Nghị định số 160/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật phòng, chống thiên tai… Qua đó làm cho cấp ủy, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sỹ nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn vị trí, tầm quan trọng của công tác phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa đối với sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước; nắm vững các nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo, phương châm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa; coi công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho phòng chống thiên tai, thảm họa là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và được thể hiện rõ trong nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch công tác, kế hoạch huấn luyện hàng tháng, hàng năm của cơ quan, đơn vị.
Đồng thời chỉ đạo cơ quan, phân đội hậu cần, kỹ thuật các cấp xây dựng phương án ứng phó với bão mạnh, siêu bão, kế hoạch bảo đảm hậu cần, kỹ thuật phòng chống sự cố, thiên tai chặt chẽ, đúng quy định; phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương khảo sát nắm chắc tình hình địa bàn, nhất là các khu vực, các công trình trọng yếu để kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, phương án bảo đảm hậu cần, kỹ thuật sát với tình hình thực tế. Chỉ đạo Bộ CHQS các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch, ký kết các văn bản phối hợp với Cảnh sát PCCC và CHCN Công an tỉnh trong công tác phòng cháy chữa cháy.
Kịp thời kiện toàn Ban Chỉ huy, ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn ở các cấp, phân công thành viên chịu trách nhiệm theo dõi, chỉ đạo công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật. Chủ động khai thác tạo nguồn, phát huy hiệu quả lực lượng, phương tiện hậu cần, kỹ thuật theo phương châm “4 tại chỗ”; hiệp đồng chặt chẽ với các cơ sở kinh doanh, xưởng sửa chữa trên địa bàn trong khai thác, huy động phương tiện, vật chất hậu cần, kỹ thuật khi có tình huống xảy ra; tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, định kỳ hàng năm tổ chức tốt Hội nghị hiệp đồng ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn với các đơn vị trên địa bàn đóng quân.
.jpg)
Duy trì thực hiện nghiêm chế độ trực ở các cấp; phối hợp theo dõi nắm chắc tình hình sự cố, thiên tai trên địa bàn; tổ chức luyện tập thuần thục các phương án, nhất là công tác phối hợp các lực lượng trong bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho nhiệm vụ phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa. Công tác huấn luyện, diễn tập cứu hộ - cứu nạn được quan tâm và chú trọng; chỉ đạo diễn tập phòng thủ dân sự (3 tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị), diễn tập xử lý sự cố tràn dầu (thành phố Huế) và phối hợp diễn tâp cứu hộ - cứu nạn giữa Quân đội 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia chặt chẽ, hiệu quả.
Cơ quan Hậu cần – Kỹ thuật các cấp, đã tham mưu và triển khai kịp thời, hiệu quả các giải pháp bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho nhiệm vụ phòng chống thiên tai, thảm họa; chủ động kiểm tra, chỉ đạo chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật dự trữ, sẵn sàng bảo đảm khi có tình huống xảy ra. Tăng cường công tác kiểm tra an toàn, triển khai kịp thời các giải pháp bảo đảm an toàn cho người, tài sản của đơn vị như: Kiểm tra doanh trại, kho tàng của các đơn vị đóng quân ở khu vực gần núi cao, suối sâu, để đề xuất giải pháp phòng chống thiên tai trong quy hoạch doanh trại; củng cố chất lượng hệ thống chống sét; phát quang khu kỹ thuật, hành lang an toàn điện; củng cố, lắp đặt, xây dựng mới hệ thống phòng chống cháy nổ; tu sửa, chằng chống, che chắn nhà cửa, kho tàng, trạm xưởng... nhất là trước mùa mưa bão. Quá trình thẩm định thiết kế, giám sát thi công các công trình doanh trại của Quân khu, luôn chú trọng các giải pháp phòng chống thiên tai trong các giai đoạn đầu tư; bảo đảm tốt các trang thiết bị phòng chống cháy nổ, chống sét, an toàn hệ thống điện của công trình... Bên cạnh đó, phát huy tốt phong trào sáng kiến kỹ thuật, đã lựa chọn, đưa vào áp dụng sáng kiến “Hệ thống tự động làm mát, phòng chống cháy nổ cho hệ thống nhà kho” và được đầu tư, lắp đặt cho 100% các nhà kho của đơn vị, nhất là kho vũ khí đạn, kho xăng dầu ... Qua đó đã góp phần giảm thiểu các nguy cơ mất an toàn trước tác động của sự cố thiên tai, thảm họa đồng thời nâng cao tính chủ động, hiệu quả trong công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho nhiệm vụ cứu hộ cứu nạn.
Khi có tình huống xảy ra, đã chủ động khắc phục mọi khó khăn, nhanh chóng điều động nhân lực, phương tiện, tổ chức vận chuyển lực lượng, vật chất cho các đơn vị, địa phương tham gia ứng cứu, sơ tán, di chuyển người và tài sản của nhân dân đến nơi an toàn. Kịp thời tổ chức lực lượng quân y cứu chữa người bệnh, người bị nạn; tiến hành cách ly, dập dịch; triển khai các giải pháp diệt trùng, khử khuẩn, xử lý môi trường, nguồn nước (trong dịch bệnh; sau mưa lũ) qua đó đã góp phần bảo đảm tốt sức khỏe cho người dân và phòng chống phát sinh, lây lan của dịch bệnh… Trong 5 năm (2021-2025), Bộ Tư lệnh Quân khu đã huy động hơn 182.506 lượt cán bộ, chiến sĩ (LLTT: 54.624 đ/c; DQTV: 127.882 đ/c) và 2.853 lượt phương tiện các loại tham gia ứng cứu, khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh, được chính quyền các cấp và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao; lực lượng Hậu cần - Kỹ thuật của quân đội thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy, hiệu quả cho hậu cần Nhân dân trên địa bàn.

Tuy nhiên, bên cạnh đó trong công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho nhiệm vụ phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa của LLVT Quân khu còn bộc lộ một số điểm còn hạn chế đó là:
1. Công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân về bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa có mặt còn hạn chế. Công tác phối hợp giữa hậu cần, kỹ thuật của các đơn vị LLVT Quân khu với hậu cần, kỹ thuật KVPT tỉnh có mặt chưa thực sự chặt chẽ, nhịp nhàng; dự kiến tình huống, duy trì lượng dự trữ vật chất, trang bị bảo đảm cho công tác phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa ở một số đơn vị, địa phương trên địa bàn trọng điểm có lúc chưa sát với huống xảy ra.
2. Công tác phối hợp trong chỉ huy, chỉ đạo, điều hành chung giữa các ngành, các cấp, các lực lượng trong huy động tiềm năng kinh tế - xã hội, vật chất hậu cần, kỹ thuật theo phương châm “4 tại chỗ” bảo đảm cho công tác phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa có thời điểm còn lúng túng, thiếu chặt chẽ, chưa tương xứng với tiềm lực, quy mô, tốc độ phát triển kinh tế ở một số địa phương, nhất là trong giai đoạn đầu thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, tổ chức biên chế, cơ chế vận hành LLVT cấp xã, phường, đặc khu chưa được kiện toàn, thống nhất.
Những năm tới dự báo còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa, thiên tai với tần suất, cường độ cao hơn; có thể xảy ra bất ngờ, trái quy luật. Mặt khác việc thực hiện tổ chức chính quyền cơ sở 2 cấp theo Nghị quyết 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ường và Đề án số 839-ĐA/QUTW của Quân ủy Trung ương về tổ chức lại cơ quan quân sự địa phương theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặt ra yêu cầu mới, cao hơn, khó khăn, phức tạp hơn đối với công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho nhiệm vụ phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa. Ngoài việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp lý, các cơ chế, chính sách để huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hậu cần, kỹ thuật từ nền kinh tế và sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân; tổ chức duy trì lượng vật chất, trang bị hậu cần, kỹ thuật ở các cấp theo đúng quy định; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham mưu chỉ đạo, làm tốt công tác hiệp đồng; đầu tư bổ sung, hiện đại hóa phương tiện, trang bị chuyện dụng cứu hộ cứu nạn cho các đơn vị Quân đội … Cần tập trung xây dựng, tạo nguồn cán bộ Hậu cần – Kỹ thuật vững mạnh về chính trị, tư tưởng; giải pháp về chuyên môn, nắm bắt tốt về thực tiễn, nhạy bén về các vấn đề mới, nhiệm vụ đột xuất, trong đó chú trọng công tác đào tạo tại các học viện, nhà trường. Từ yêu cầu trên, đặt ra cho công tác đào tạo cán bộ Hậu cần – Kỹ thuật tại Học viện Hậu cần những vấn đề cơ bản sau:
1. Mục tiêu cơ bản, là xây dựng đội ngũ cán bộ Hậu cần - Kỹ thuật vừa hồng vừa chuyên, lấy bản lĩnh chính trị làm gốc, sẵn sàng cống hiến, hi sinh, dám đương đầu với khó khăn, thử thách; lấy năng lực chuyên môn làm thước đó hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ. Đào tạo đội ngũ cán bộ Hậu cần - Kỹ thuật phải có khả năng dự báo tốt, tư duy linh hoạt, nhạy bén; thích ứng nhanh, hiệu quả trước các tình huống bất ngờ; có năng lực toàn diện, chuyên sâu, không chỉ giỏi về nghiệp vụ quân sự mà còn phải hiểu biết, thành thạo nhiều mặt công tác khác, như công tác y tế cứu trợ, phòng dịch, xử lý môi trường; biết sử dụng, khắc phục các hư hỏng của trang bị, khí tài đặc chủng trong cứu hộ, cứu nạn…; có năng lực chỉ huy, điều hành tốt, khả năng phối hợp, hiệp đồng hiệu quả với các lực lượng trong bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho thực hiện nhiệm vụ.
2. Đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục, đào tạo, chuyển từ hoạt động truyền thụ kiến thức đơn thuần sang phát triển năng lực tự tư duy và thực hành bảo đảm hậu cần, kỹ thuật gắn với từng tình huống, địa bàn cụ thể; gắn công tác đào tạo tại nhà trường với truyền thụ các bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho nhiệm vụ phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa.
3. Bổ sung chương trình đào tạo, bằng các học phần có tính chuyên sâu về quản lý thảm họa vào nội dung chính khóa của học viện, nhà trường như: Quy trình tiếp tế đường không, đường thủy khi giao thông bị chia cắt; thiết lập bệnh viện giã chiến; công tác xử lý vệ sinh môi trường sau ngập lụt, lũ quét; phương pháp sử dụng trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn hiện đại (UAV, camera hồng ngoại, robot thăm dò); kỹ thuật xử lý tràn dầu, rò rỉ hóa chất độc hại …
4. Tăng thời gian huấn luyện thực hành, diễn tập ngoài thực địa, cũng như tổ chức cho học viên tham quan, nghiên cứu phương án bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong các cuộc diễn tập phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa do các đơn vị, địa phương tổ chức. Ứng dụng hiệu quả công nghệ mô phỏng VR/AR bằng các kịch bản thảm họa nguy hiểm để học viên được trải nghiệm và nghiên cứu các phương án bảo đảm hậu cần, kỹ thuật.
5. Đầu tư xây dựng các phòng học hiện đại, chuyên sâu; trang bị đầy đủ các mô hình huấn luyện, khí tài, phương tiện cứu hộ cứu nạn, phương tiện bảo đảm hậu cần, kỹ thuật mới, hiện đại để học viên được làm quen, trải nghiệm ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Đào tạo cán bộ Hậu cần – Kỹ thuật Quân đội đáp ứng yêu cầu phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa không chỉ là nhiệm vụ cấp bách trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và Nhà nước. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản lĩnh chính trị, trí thức khoa học và kinh nghiệm thức tiễn là nền tảng xây dựng đội ngũ cán bộ Hậu cần - Kỹ thuật ở các cấp vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho các lực lượng hoàn thành tốt nhiệm vụ trong cuộc chiến “phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tại, thảm họa”.
Đại tá PHẠM ĐỨC TUẤN, Chủ nhiệm Hậu cần - Kỹ thuật Quân khu 4



