A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Những đại biểu gần dân, vì dân

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên độc lập tự do cho nước nhà. Chỉ một tuần sau lễ tuyên bố độc lập, ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 14/SL quyết định tổ chức Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước.

Ngày 13/12/1945, trên báo Cứu quốc (số 130), Người viết: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức gánh vác công việc nước nhà.

Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước nhà thì đều có quyền ra ứng cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó…

Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thực sự là Chính phủ của toàn dân”.

Theo cuốn hồi ký Trọn một con đường của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên (Nguyễn Văn Đồng), trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tỉnh Quảng Bình có 5 đại biểu. Câu vè vận động bầu cử: “Thuần Nho, Võ Quyết, Văn Đồng/ Trần Hường, Hoàng Diệm chớ quên người nào” được lan truyền rộng rãi trong Nhân dân. Kết quả, cả 5 người đều đạt số phiếu gần như tuyệt đối. Họ đều là những người trưởng thành từ phong trào cách mạng, gần dân và suốt đời vì dân.

Bà Hoàng Thị Thiệu, đại biểu Quốc hội khóa III (đứng thứ 2 trái sang, hàng thứ nhất) cùng các đại biểu nữ chụp ảnh với Bác Hồ.

 

Ngày 2/3/1946, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I khai mạc. Khi Quốc dân Đảng và Việt cách đòi dành 70 ghế trong Quốc hội, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục các đại biểu chấp thuận, nâng tổng số đại biểu tham dự lên 403.

Ngày 28/10/1946, kỳ họp thứ hai của Quốc hội khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Do hoàn cảnh kháng chiến, một số đại biểu Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ không thể tham dự. Nhiều đại biểu Việt quốc, Việt cách tự ý bỏ họp. Sau 10 ngày thảo luận, ngày 9/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thông qua với 240 phiếu thuận và 2 phiếu chống. Bản Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều - đặt nền móng cho nhà nước dân chủ của Nhân dân. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, Hiến pháp nước ta đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn đất nước.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Theo Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, năm 1956 sẽ tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nhưng đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã phá hoại âm mưu đó.

Quốc hội khóa II (1960-1964) hoạt động trong bối cảnh đế quốc Mỹ đã can thiệp sâu vào miền Nam và chuẩn bị leo thang đánh phá miền Bắc. Quốc hội làm việc theo những nguyên tắc của Hiến pháp năm 1959. Khi ấy, Quảng Bình có 7 đại biểu tham dự.

Do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, Quốc hội khóa III phải kéo dài từ năm 1964 đến năm 1971. Trong số 7 đại biểu của Quảng Bình, tôi có bà Hoàng Thị Thiệu, khi đó là Bí thư Xã đoàn Quảng Minh, Ủy viên Thường vụ Tỉnh đoàn Quảng Bình (nay thuộc xã Nam Gianh, tỉnh Quảng Trị).

Ứng cử tại Quảng Bình khi ấy có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và ông Phan Văn Hai (Ba Du), nghệ nhân sân khấu ca kịch. Cùng với đó là 5 đại biểu tại địa phương: ông Nguyễn Tư Thoan, Bí thư Tỉnh ủy; ông Phạm Xuân Quảng, Chủ tịch huyện Tuyên Hóa; ông Võ Khắc Ý, Chủ nhiệm hợp tác xã Việt Xô; ông Lê Trạm, Chủ nhiệm hợp tác xã Ngư nghiệp Lộc Ninh.

Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa III diễn ra từ ngày 25/6 đến 3/7/1964 với 429/455 đại biểu tham dự. Khi ấy chị Thiệu mới 23 tuổi. Chị đã vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một lần, Bác mời các đại biểu thanh niên đến nhà khách. Trên bàn đã chuẩn bị sẵn kẹo và nước. Bác ân cần hỏi thăm từng người rồi vui vẻ nói: “Các cháu ăn kẹo đi chứ, ta vừa ăn vừa nói chuyện. Mà các cháu phải nhớ ăn cho hết kẹo đấy nhé. Ăn không hết thì cầm về. Còn nước uống không hết thì chừa lại cho Bác”. Cả phòng bật cười. Cuối buổi, Bác mời các đại biểu ra sân chụp ảnh chung, ai cũng muốn đứng gần Người hơn.

Tại kỳ họp thứ tư (19-22/5/1968), khi ấy chị Thiệu là Chủ nhiệm Hợp tác xã Minh Lệ - đơn vị đạt năng suất khoai gần 20 tấn/ha. Thời điểm đó Quảng Bình là “chảo lửa” chiến tranh. Chị phải đi bộ lên Phúc Trạch rồi mới có xe theo đường rừng ra Hà Nội dự họp.

Trước giờ khai mạc, Bác Hồ đến hội trường. Các đại biểu trẻ quây quanh Người. Bác kéo tay chị Thiệu lại gần và nói: “Bác muốn nghe tình hình quân dân Quảng Bình. Cháu Thiệu kể cho Bác nghe xem bà con trong ấy tránh bom đạn thế nào, vừa sản xuất vừa chiến đấu ra sao”.

Chị kể về cuộc sống trong vùng bom đạn: trẻ em đến trường đội mũ rơm chống mảnh pháo; người già và trẻ nhỏ ban đêm ngủ dưới hầm ngoài đồng; họp hành cũng thắp đèn trong hầm; mỗi khi bom rơi, dân quân bắn ba phát súng báo hiệu để mọi người đến cứu thương, đào hầm sập; còn khi máy bay địch lao xuống, dân quân kê súng trường trên bờ hầm bắn trả. Nghe xong, Bác khen quân dân Quảng Bình “hai giỏi”: chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi.

Đến thế hệ chúng tôi, khi được làm cử tri đi bầu cử, đất nước đã thống nhất. Tôi nhận ra rằng những con người bình dị quanh mình vẫn có thể trở thành đại biểu của dân.

Thầy giáo Nguyễn Ngọc Phương, từng làm công tác Đoàn - Đội ở trường chúng tôi, sau này là Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Bình khóa XIV (2016-2021). Anh thường xuyên tiếp xúc cử tri, lắng nghe ý kiến người dân và có nhiều đề xuất thiết thực tại nghị trường.

Cạnh nhà tôi còn có anh Hoàng Đăng Quang. Thuở nhỏ anh học cùng lớp với vợ tôi và em trai tôi. Ngày ấy anh cũng chăn trâu, cắt cỏ, hái củi như bao bạn nhỏ trong làng. Học cấp ba, anh vẫn gánh hàng giúp mẹ buôn bán. Sau khi học đại học, cao học, anh chuyển sang công tác Đảng và chính quyền, từng giữ nhiều cương vị: Bí thư Huyện ủy Quảng Trạch, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Bình.

Bà Hoàng Thị Thiệu, thôn Bắc Minh Lệ, xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình trước đây, nguyên đại biểu Quốc hội khóa III giới thiệu lịch sử Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Bình.

 

Anh quan tâm phát triển nông nghiệp sạch, xây dựng giao thông nông thôn, thúc đẩy du lịch gắn với Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng và các dự án năng lượng tái tạo. Dù giữ nhiều cương vị quan trọng, khi về làng anh vẫn tham gia sinh hoạt câu lạc bộ văn nghệ Quảng Minh.

Tháng 10/2015, anh được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình; tháng 1/2016 được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Ngày 24/6/2016, anh được bầu làm Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình khóa XVII với 48/49 phiếu tín nhiệm. Sau đó, anh được phân công giữ chức Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương.

Tại phiên họp ngày 3/2/2026, Bộ Chính trị đã đồng ý cho anh nghỉ công tác từ ngày 1/3 và nghỉ hưu từ ngày 1/12/2026.

Nhìn lại chặng đường lịch sử của Quốc hội và các cuộc bầu cử, từ những ngày đầu lập nước đến hôm nay, có thể thấy đất nước luôn cần những đại biểu gần dân, hiểu dân và sống vì lợi ích của nhân dân. Chính họ là cầu nối bền chặt giữa ý Đảng và lòng dân, góp phần xây dựng một Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.

HOÀNG MINH ĐỨC


Các tin khác

Tin đọc nhiều