A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trận đánh quyết liệt nhất trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, tiến công cứ điểm A1 là trận đánh then chốt, chi phối trực tiếp, mạnh mẽ đến toàn cục chiến dịch. Đó cũng là trận đánh điển hình nhất, khó khăn nhất, dài ngày nhất và quyết liệt nhất.

Trong lòng chảo Điện Biên Phủ, dãy đồi phía Đông được coi là “bức tường” tự nhiên bảo vệ cho sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm của quân Pháp. Lợi dụng địa thế thuận lợi, địch đã xây dựng thành hai trung tâm đề kháng mạnh (Dominique và Eliane). Mỗi trung tâm có nhiều cứ điểm, trong đó, cứ điểm A1 là điểm cao cuối cùng về phía Nam của khu Đông sát ngay khu trung tâm. Nếu ta chiếm được cứ điểm A1 sẽ tạo nên thế uy hiếp trực tiếp các cứ điểm C1, C2, đồng thời ngăn chặn quân địch từ trung tâm ra phản kích, làm bàn đạp phát triển vào trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Trận đánh quyết liệt nhất trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
Bộ đội ta tấn công các vị trí xung yếu của địch trên đồi A1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngày 6-5-1954.  

 

Đồi A1 cao 49m, dài 200m, rộng 80m, hình bầu dục. Quân Pháp xây dựng A1 thành một cứ điểm trọng yếu trong hệ thống phòng ngự phía Đông. Để giành thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược, cần phải xóa sổ hệ thống phòng ngự phía Đông của địch, chiếm lĩnh được các điểm cao, đặc biệt là A1, biến thành những trận địa uy hiếp Mường Thanh, tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực địch, tạo bàn đạp để tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm.

Nhiệm vụ tiến công đồi A1 được giao cho Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316), đơn vị đã có nhiều kinh nghiệm đánh công kiên. Theo kế hoạch, Trung đoàn nổ súng tấn công đồi A1 vào ngày 30-3-1954 (cùng ngày mở màn đợt 2 của Chiến dịch Điện Biên Phủ), nhưng do đường dây điện thoại bị đứt, Trung đoàn không nhận được lệnh từ sở chỉ huy nên khi thấy pháo của trên đã chuyển sang bắn vào đồi Al theo kế hoạch hiệp đồng, tại các cứ điểm khác, các đơn vị bạn cũng đã tiến hành đột phá xong, đang chiến đấu trong tung thâm, Trung đoàn trưởng quyết định ra lệnh cho toàn bộ hỏa lực của Trung đoàn tập kích vào các vị trí theo kế hoạch, các đơn vị tiến vào vị trí xuất phát xung phong, tiến hành đánh bộc phá mở cửa. Bước vào chiến đấu chậm 35 phút so với quy định, yếu tố bất ngờ không còn, Trung đoàn tổ chức đột phá hai mũi, 21 giờ 30 phút ngày 30-3, các mũi mở cửa xong, bộ binh xung phong đánh vào cứ điểm. Địch dựa vào hầm ngầm trên đỉnh đồi chống trả quyết liệt. Trung đoàn đã tung hết lực lượng dự bị, nhưng đến sáng 31-3 chỉ chiếm được một phần đồi A1.

Ngày 31-3, địch tung lực lượng phản kích, các đơn vị bộ binh có xe tăng và không quân yểm hộ, tìm mọi cách thu hẹp phạm vi chiếm lĩnh của Trung đoàn 174. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) làm lực lượng chủ công tiến công đồi A1. Đêm 31-3, Trung đoàn 102 và một bộ phận của Trung đoàn 174 tiếp tục tấn công đồi A1 lần thứ 2. Cuộc chiến đấu kéo dài đến sáng 1-4-1954, ta chiếm được 2/3 ngọn đồi, nhưng ban ngày địch phản kích chiếm lại phần lớn trận địa. Đêm 1-4, ta tiếp tục tổ chức tấn công nhưng không thành công.

Trận đánh giằng co đến ngày 4-4, ta chỉ chiếm được 1/3 quả đồi A1. Sau 2 ngày 3 đêm tiến công cứ điểm A1, Trung đoàn 102 bị tổn thất nặng nề. Nhận thấy nếu tiếp tục tiến công, bộ đội sẽ thương vong nhiều hơn, bởi nơi đây gắn chặt với sự mất còn của trung tâm Mường Thanh, địch sẽ tăng cường lực lượng, giành giật quyết liệt với ta. Tác chiến theo phương án cũ sẽ không thu được kết quả, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định ngừng tiến công cứ điểm A1, giao Trung đoàn 174 phòng ngự giữ phần đồi đã chiếm được.

Nhằm tìm phương án tiêu diệt cứ điểm quan trọng này, Bộ chỉ huy chiến dịch triệu tập cán bộ tham gia trận đánh để thu thập ý kiến, tìm gặp những người ở địa phương và khai thác tù binh để có thêm thông tin về căn hầm đã được xây dựng trên quả đồi và chuẩn bị kế hoạch tiếp tục tiến công đồi A1, vì chỉ khi tiêu diệt được vị trí này mới có khả năng kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Qua nắm tình hình được biết, khi chiếm đóng Điện Biên Phủ, quân Nhật đã xây nhà trên đồi A1, dưới là hầm phòng tránh máy bay. Sau khi nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ, quân Pháp đã dỡ bỏ ngôi nhà đó, lấy gạch xây lô cốt, cải tạo hầm cũ thành hầm ngầm kiên cố.

Đại đoàn 316 được giao nhiệm vụ tiếp tục tiến công cứ điểm A1. Để thực hiện nhiệm vụ, phái viên của cơ quan tham mưu chiến dịch đề nghị đào đường hào men theo Đường 41, tách rời đồi A1 với đồi A3, đồng thời cắt đứt đường tiếp viện của quân địch. Trung đoàn 174 đề nghị đào thêm đường hầm từ trận địa của ta tại đồi A1 tới dưới hầm ngầm và được Bộ chỉ huy chiến dịch chấp nhận.

Tối 20-4, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 316 ra lệnh đào đường ngầm. Ngày 4-5-1954, sau khoảng 2 tuần thay nhau đào dưới làn đạn địch, các chiến sĩ công binh đã hoàn thành đường hầm sâu gần 50m và căn hầm chứa thuốc nổ dưới đồi A1. Về thuốc nổ, được trên cấp 200kg; 600kg tháo gỡ từ bom chưa nổ của chiếc máy bay B-24 bị bắn rơi ở Bản Kéo; Đại đoàn cấp 180kg; tổng cộng có 980kg được chia thành 50 gói. Để bảo đảm toàn bộ khối lượng cùng phát nổ, đơn vị công binh đã bố trí một trạm nổ ở chính giữa, 4 trạm nổ phụ xung quanh. Để thật ăn chắc, lực lượng công binh áp dụng hai phương pháp giật dây nổ bằng nụ xòe cách cửa hầm 80m và điểm hỏa bằng máy, qua sợi dây điện kép dài 100m nối với khối thuốc nổ. 20 giờ 30 phút ngày 6-5-1954, Đại đoàn trưởng ra lệnh nổ bộc phá, tạo thành hiệu lệnh tiến công. Sau 15 phút hỏa lực bắn chế áp, bộ đội xung phong tiêu diệt địch ở đồi A1, tháo gỡ điểm chốt để tiến vào sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Uy lực nổ lớn đã phá hủy một mảng công sự, tiêu diệt một phần tuyến ngang gây khó khăn cho các đơn vị đánh đồi A1 trong các đợt trước, tạo nên cửa mở hướng Đông Nam để mũi chủ công xung phong tiêu diệt cứ điểm quan trọng này. 4 giờ 30 phút ngày 7-5, quân ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm A1. Qua 38 ngày đêm, lúc tiến công, khi phòng ngự, giành giật với quân thù từng tấc đất, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174, Trung đoàn 102 và các đơn vị binh chủng đã vượt qua muôn vàn hy sinh, gian khổ, loại khỏi vòng chiến đấu 828 tên địch (diệt 376 tên, bị thương và bị bắt 452 tên), thu nhiều vũ khí, phương tiện của địch.

Đại tá, TS LÊ THANH BÀI, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam


Các tin khác

Tin đọc nhiều