Vận dụng tư tưởng “trọng dân, gần dân” của Hồ Chí Minh trong việc phát huy vai trò đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã phường hiện nay
Để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường không chỉ cần có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải có phong cách công tác khoa học, dân chủ, gần gũi, gắn bó mật thiết với Nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về “trọng dân, gần dân”, “lấy dân làm gốc”, là cơ sở lý luận và phương pháp quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự cơ sở đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong toàn bộ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về nhân dân giữ vị trí đặc biệt quan trọng, xuyên suốt và nhất quán. Người luôn khẳng định Nhân dân là chủ thể của cách mạng, là nguồn sức mạnh vô tận của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo Người, mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của Nhân dân; cán bộ, đảng viên phải thực sự là người lãnh đạo, đồng thời là người đầy tớ trung thành của Nhân dân. Vì vậy, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân vừa là yêu cầu về đạo đức, vừa là phương pháp công tác, vừa là điều kiện bảo đảm để cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong tác phẩm Dân vận viết năm 1949, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân”[1]. Người đồng thời nhấn mạnh phương pháp công tác dân vận phải thiết thực, cụ thể, cán bộ phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”[2]. Những chỉ dẫn đó thể hiện rõ quan điểm: muốn tập hợp, tổ chức và phát huy sức mạnh của Nhân dân, trước hết cán bộ phải thực sự gần dân, hiểu dân và làm cho dân tin.
Đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tư tưởng “lấy dân làm gốc” có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Sức mạnh quốc phòng không chỉ được tạo nên bởi tiềm lực vật chất mà còn bởi sự đồng thuận xã hội, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang. Vì vậy, xây dựng “Thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở là một nội dung quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Ở cơ sở, Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường là cơ quan tham mưu trực tiếp cho cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác quân sự, quốc phòng; đồng thời trực tiếp tổ chức, quản lý, huấn luyện và hoạt động của lực lượng dân quân theo quy định; phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khác. Đặc thù hoạt động ở địa bàn dân cư đặt đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường vào vị trí thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, làm việc với các tổ chức chính trị - xã hội, tổ dân phố, thôn, khu dân cư và các lực lượng tại chỗ. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ này vì thế có quan hệ trực tiếp với việc củng cố niềm tin của nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng cao; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở cơ sở có nhiều nội dung mới; sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và mạng xã hội làm thay đổi phương thức tiếp nhận, trao đổi thông tin của người dân; đồng thời những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội đòi hỏi cán bộ cơ sở phải sâu sát, linh hoạt và có năng lực giải quyết công việc ngày càng cao. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới phong cách công tác của đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường, trong đó vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “trọng dân, gần dân” là một nội dung có ý nghĩa thiết thực.

Tư tưởng “trọng dân, gần dân” của Hồ Chí Minh không phải là một quan điểm biệt lập mà nằm trong hệ thống tư tưởng nhất quán về vị trí, vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Trước hết, trọng dân là nhận thức đúng và đầy đủ vị trí, vai trò của Nhân dân. Hồ Chí Minh luôn khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân; sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ sự gắn bó với nhân dân; mọi thắng lợi của cách mạng đều gắn với việc tập hợp và phát huy sức mạnh của nhân dân. Từ nhận thức đó, cán bộ phải chống tư tưởng coi thường quần chúng, quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tiễn đời sống. Trọng dân còn thể hiện ở việc tôn trọng quyền làm chủ, tôn trọng ý kiến chính đáng của Nhân dân, chăm lo lợi ích của Nhân dân và đặt lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.
Thứ hai, gần dân là phương thức để hiểu dân, học dân và vận động dân. Gần dân không đơn thuần là thường xuyên tiếp xúc về mặt không gian, mà quan trọng hơn là gần về tư tưởng, tình cảm và trách nhiệm. Người cán bộ phải đi vào đời sống thực tế, biết người dân đang nghĩ gì, cần gì, khó khăn ở đâu và mong muốn gì; từ đó có cách tuyên truyền, vận động và tổ chức thực hiện phù hợp. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ không chỉ nói cho dân nghe mà còn phải lắng nghe dân, học hỏi kinh nghiệm của dân và chịu sự kiểm tra của Nhân dân.
Thứ ba, trọng dân, gần dân phải được thể hiện bằng việc làm cụ thể. Hồ Chí Minh đặc biệt phê phán cách làm việc hình thức, chỉ nói mà không làm. Những yêu cầu “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” cho thấy phương pháp dân vận phải gắn chặt giữa nhận thức với hành động, giữa lời nói với việc làm. Cán bộ muốn được Nhân dân tin tưởng thì phải thể hiện trách nhiệm bằng hiệu quả công việc, nhất là những việc liên quan trực tiếp đến đời sống, quyền lợi và sự bình yên của Nhân dân.
Thứ tư, trọng dân, gần dân phải gắn với nêu gương của cán bộ. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ là “cái gốc của mọi công việc”[3]. Phẩm chất, năng lực và phong cách của cán bộ có tác động trực tiếp đến niềm tin của Nhân dân đối với tổ chức và chế độ. Vì vậy, cán bộ phải gương mẫu về đạo đức, lối sống, kỷ luật, tinh thần trách nhiệm; công tâm, khách quan trong giải quyết công việc; không hách dịch, cửa quyền, không lợi dụng chức trách để vụ lợi. Có thể thấy, “trọng dân” là nền tảng về nhận thức và thái độ; “gần dân” là phương pháp và phong cách công tác; còn “làm cho dân tin” là kết quả cần hướng tới. Ba yếu tố đó thống nhất với nhau, tạo thành một yêu cầu quan trọng đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị nói chung và cán bộ quân sự ở cơ sở nói riêng.
Vai trò của đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường trong xây dựng “Thế trận lòng dân” Đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường có vai trò trực tiếp trong tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở cơ sở. Trong thực tiễn, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ này phụ thuộc không nhỏ vào chất lượng công tác tuyên truyền, vận động và khả năng tập hợp quần chúng của cán bộ quân sự.
(1).jpg)
Một là, đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường là cầu nối giữa cấp ủy, chính quyền với lực lượng vũ trang và nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Cán bộ vừa phải nắm chắc chủ trương của cấp trên, vừa phải hiểu đặc điểm địa bàn, tình hình Nhân dân để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền những chủ trương, biện pháp sát thực tiễn. Nếu cán bộ không sâu sát cơ sở, việc tham mưu dễ rơi vào tình trạng chung chung, thiếu tính khả thi.
Hai là, đội ngũ này có vai trò quan trọng trong xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên, góp phần tạo nguồn lực cho nhiệm vụ quốc phòng địa phương. Đây là những lực lượng có mối quan hệ trực tiếp với cộng đồng dân cư. Do đó, muốn xây dựng lực lượng có chất lượng, cán bộ quân sự cơ sở phải làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích, tạo sự đồng thuận và phát huy tinh thần trách nhiệm của công dân.
Ba là, cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với lực lượng vũ trang. Hình ảnh người cán bộ quân sự tận tụy, trách nhiệm, gần gũi, biết lắng nghe và sẵn sàng cùng nhân dân giải quyết khó khăn trong phạm vi chức trách sẽ tạo ra tác động tích cực đối với nhận thức và tình cảm của Nhân dân. Ngược lại, thái độ quan liêu, thiếu trách nhiệm, ứng xử không phù hợp dù chỉ ở một số cán bộ cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức.
Bốn là, đội ngũ cán bộ quân sự cơ sở có vai trò huy động sức mạnh tại chỗ trong những tình huống đột xuất. Khi địa phương xảy ra thiên tai, sự cố hoặc những tình huống cần huy động lực lượng, sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, lực lượng quân sự và Nhân dân là yếu tố quan trọng. Thực tiễn công tác dân vận của Quân đội cho thấy việc hướng mạnh về cơ sở, phối hợp với các lực lượng và giải quyết những vấn đề thiết thực của Nhân dân có ý nghĩa quan trọng đối với củng cố khối đại đoàn kết và xây dựng “thế trận lòng dân”. Như vậy, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường trên cơ sở tư tưởng “trọng dân, gần dân” không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân vận mà còn trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương.

Trong giai đoạn hiện nay, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “trọng dân, gần dân” đối với cán bộ quân sự cơ sở cần được đặt trong những điều kiện mới. Trước hết, nhận thức và nhu cầu của người dân ngày càng đa dạng. Người dân không chỉ quan tâm đến những vấn đề truyền thống mà còn có yêu cầu ngày càng cao về tính công khai, minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm trong hoạt động của cơ quan Nhà nước và cán bộ. Tiếp đó, không gian xã hội và phương thức giao tiếp thay đổi nhanh chóng. Thông tin đến với người dân rất nhanh, đa chiều và khó kiểm soát. Điều đó đòi hỏi cán bộ quân sự cơ sở phải nâng cao năng lực nắm tình hình, kỹ năng giao tiếp, khả năng phân tích thông tin và chủ động tham mưu xử lý những vấn đề phát sinh từ cơ sở. Bên cạnh đó, xây dựng quốc phòng không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Từ đó, cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường phải chuyển mạnh từ tư duy “quản lý dân” sang “phục vụ Nhân dân, dựa vào Nhân dân và phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân”, tất nhiên trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được pháp luật quy định.
Để vận dụng tốt tư tưởng “trọng dân, gần dân” của Hồ Chí Minh trong việc phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường hiện nay cần thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ về vị trí của Nhân dân và ý nghĩa của tư tưởng “trọng dân, gần dân”. Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng. Cấp ủy, chính quyền và cơ quan quân sự cấp trên cần thường xuyên giáo dục cho cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường nhận thức sâu sắc rằng gần dân không phải là một hoạt động mang tính phong trào, càng không phải nhiệm vụ riêng của cán bộ dân vận, mà là một yêu cầu trong thực hiện chức trách của mỗi cán bộ quân sự ở cơ sở. Nội dung giáo dục cần gắn tư tưởng Hồ Chí Minh với nhiệm vụ cụ thể của từng chức danh, từng địa bàn. Cần làm rõ mối quan hệ giữa gần dân với nắm tình hình, giữa trọng dân với xây dựng lực lượng dân quân, giữa công tác dân vận với xây dựng “thế trận lòng dân”. Qua đó, hình thành động cơ đúng đắn: Cán bộ gần dân trước hết để phục vụ Nhân dân tốt hơn và hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng, chứ không phải để tạo hình thức hoặc thành tích.
Hai là, đổi mới phong cách công tác theo hướng sâu sát cơ sở, tôn trọng và lắng nghe Nhân dân. Cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường cần dành thời gian thích đáng cho cơ sở, chủ động tiếp xúc với tổ dân phố, thôn, khu dân cư, các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng dân quân và những đối tượng có liên quan đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Quan trọng hơn, mỗi lần xuống cơ sở phải hướng vào một nội dung cụ thể: Nắm tình hình, giải quyết một vấn đề, tuyên truyền một chủ trương, kiểm tra một nhiệm vụ hoặc lắng nghe một nhóm ý kiến. Cần khắc phục tình trạng “xuống cơ sở” nhưng chỉ làm việc với cán bộ cơ sở, ít tiếp xúc với nhân dân. Thực hiện tốt yêu cầu “mắt trông, tai nghe, chân đi, tay làm”[4] theo tinh thần Hồ Chí Minh chính là biến phong cách gần dân thành phương pháp nắm tình hình và giải quyết công việc hằng ngày.
Ba là, nâng cao năng lực tham mưu, nhất là năng lực nắm và dự báo tình hình Nhân dân. Cán bộ quân sự cơ sở muốn tham mưu đúng phải nắm chắc địa bàn. Do đó, cần xây dựng phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin từ nhiều nguồn; chú trọng những vấn đề có khả năng tác động đến sự ổn định của địa bàn và việc thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Việc nắm tình hình phải bảo đảm khách quan, đúng chức năng, không suy diễn hoặc hành chính hóa các vấn đề xã hội. Những kiến nghị chính đáng của nhân dân cần được tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền; những vấn đề thuộc chức năng của cơ quan quân sự phải được giải quyết kịp thời, đúng quy định. Qua đó, cán bộ quân sự xã, phường vừa nâng cao chất lượng tham mưu, vừa góp phần tạo sự đồng thuận trong Nhân dân.
Bốn là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường; gắn “trọng dân, gần dân” với xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.
Nêu gương phải bắt đầu từ những việc cụ thể, gần gũi nhất: đúng giờ, đúng hẹn; giải quyết công việc đúng quy định; thái độ hòa nhã; không né tránh trách nhiệm; dám nhận trách nhiệm khi công việc chưa đạt yêu cầu. Cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Chỉ huy trưởng, Chính trị viên hoặc người phụ trách công tác quân sự ở cơ sở phải trở thành tấm gương về tinh thần trách nhiệm, kỷ luật và phong cách gần dân. Khi người cán bộ thực sự nói đi đôi với làm, sự thuyết phục đối với Nhân dân và lực lượng dân quân sẽ cao hơn nhiều so với tuyên truyền bằng lời nói đơn thuần.
Trong xây dựng lực lượng dân quân, cán bộ cần làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích để công dân hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Khi tổ chức huấn luyện, hội thi, hội thao hoặc thực hiện các nhiệm vụ, cần chú ý đến điều kiện thực tế của địa phương và hoàn cảnh của từng đối tượng, trong phạm vi quy định. Đặc biệt, phải tạo được sự thống nhất giữa yêu cầu nhiệm vụ với quyền lợi chính đáng của người dân. Cách làm công khai, dân chủ, minh bạch sẽ góp phần nâng cao sự đồng thuận, hạn chế tâm lý miễn cưỡng hoặc coi nhiệm vụ quốc phòng chỉ là trách nhiệm của một bộ phận. Đây cũng là cách vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh của quần chúng: Không áp đặt đơn thuần mà phải làm cho nhân dân hiểu, tin và tự giác tham gia.
Năm là, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ban Chỉ huy Quân sự với cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương. Công tác vận động Nhân dân không thể được thực hiện hiệu quả nếu chỉ dựa vào một cơ quan. Cán bộ quân sự cần chủ động phối hợp với các tổ chức ở địa phương, phát huy vai trò của những người có uy tín, cán bộ cơ sở và các tổ chức quần chúng trong tuyên truyền, vận động thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Cơ chế phối hợp cần xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, nội dung phối hợp và phương thức trao đổi thông tin. Thực tiễn xây dựng thế trận quốc phòng Cơ chế phối hợp cần xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, nội dung phối hợp và phương thức trao đổi thông tin. Thực tiễn xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân cho thấy cơ chế phối hợp giữa các lực lượng có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm hoạt động đồng bộ, tránh chồng chéo, né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm.

Sáu là, đổi mới nội dung, hình thức công tác dân vận phù hợp với đặc điểm địa bàn; tăng cường kiểm tra, đánh giá và xây dựng môi trường để cán bộ thực sự gần dân. Không nên áp dụng một phương thức dân vận giống nhau cho mọi xã, phường. Mỗi địa bàn có đặc điểm dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội và những vấn đề cần quan tâm khác nhau. Vì vậy, cán bộ quân sự phải biết lựa chọn nội dung, phương pháp phù hợp. Ở địa bàn đô thị, cần chú trọng phương thức trao đổi trực tiếp, tuyên truyền ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với nhịp sống và đặc điểm dân cư. Ở địa bàn nông thôn, có thể kết hợp tuyên truyền với các hoạt động cộng đồng, gắn nhiệm vụ quốc phòng với xây dựng đời sống văn hóa, phòng chống thiên tai và các hoạt động thiết thực khác. Điều quan trọng là mọi hình thức phải hướng tới mục tiêu tạo sự hiểu biết, đồng thuận và trách nhiệm của nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cấp ủy, chính quyền và cơ quan quân sự cấp trên cần đưa việc thực hiện phong cách “trọng dân, gần dân” vào nội dung kiểm tra, đánh giá cán bộ. Tuy nhiên, không nên đánh giá bằng số lượng cuộc tiếp xúc hoặc số buổi xuống cơ sở một cách máy móc, mà phải chú trọng hiệu quả thực chất. Có thể đánh giá thông qua chất lượng nắm tình hình, khả năng tham mưu, mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ Nhân dân, khả năng phối hợp với các lực lượng và mức độ đồng thuận trong thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, cần kịp thời biểu dương những cán bộ có cách làm sáng tạo, thiết thực; chấn chỉnh những biểu hiện quan liêu, xa dân, thiếu trách nhiệm.
Bảy là, kết hợp “gần dân” với xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực toàn diện. Suy cho cùng, phong cách gần dân không thể tách rời chất lượng đội ngũ. Một cán bộ có thái độ tốt nhưng năng lực hạn chế thì khó giải quyết hiệu quả những vấn đề thực tiễn; ngược lại, cán bộ có chuyên môn nhưng thiếu trách nhiệm, thiếu kỹ năng giao tiếp cũng khó tạo được niềm tin. Vì vậy, cần kết hợp bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống với kiến thức quân sự, quốc phòng, pháp luật, kỹ năng tham mưu, kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng, kỹ năng xử lý tình huống ở cơ sở và năng lực ứng dụng công nghệ thông tin. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự xã, phường vừa “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, sâu sát cơ sở, có trách nhiệm với nhân dân”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới.
Để tư tưởng “trọng dân, gần dân” thực sự đi vào cuộc sống, cần đồng thời kiên quyết khắc phục một số biểu hiện lệch lạc. Trước hết là bệnh hình thức: tổ chức nhiều hoạt động nhưng thiếu chiều sâu, xuống cơ sở để hoàn thành chỉ tiêu nhưng không nắm được vấn đề thực tế. Tiếp theo là tư tưởng hành chính, mệnh lệnh, áp đặt. Trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, cán bộ đương nhiên phải tuân thủ nguyên tắc, kỷ luật và pháp luật; tuy nhiên, kỷ luật không đồng nghĩa với thái độ hành chính hóa trong quan hệ với nhân dân. Những nội dung có thể tuyên truyền, giải thích, vận động thì cần kiên trì thuyết phục để tạo sự tự giác. Cần tránh cả tâm lý ngại tiếp xúc với nhân dân. Một số vấn đề ở cơ sở có thể phức tạp, khó giải quyết, nhưng càng khó thì càng cần cán bộ có mặt, lắng nghe và tham mưu xử lý đúng thẩm quyền. Cán bộ quân sự gần dân nhưng phải hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền; vấn đề thuộc lĩnh vực nào phải được chuyển đến đúng cơ quan có trách nhiệm. Gần dân phải đi liền với nguyên tắc, kỷ luật và pháp luật.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “trọng dân, gần dân”, xét đến cùng, là sự thống nhất giữa nhận thức về vị trí, vai trò của Nhân dân với phương pháp và phong cách công tác của cán bộ. Đối với đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường, vận dụng tư tưởng đó có ý nghĩa trực tiếp đối với việc nâng cao chất lượng tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ; phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị và nhân dân; củng cố cơ sở chính trị và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Thực hiện tốt yêu cầu “trọng dân, gần dân” đòi hỏi sự chuyển biến đồng bộ từ nhận thức đến hành động. Trong tình hình mới, khi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra ngày càng cao, sức mạnh quốc phòng càng phải được xây dựng từ sức mạnh tổng hợp của toàn dân. Bởi vậy, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “trọng dân, gần dân” vào xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự cơ sở không chỉ là yêu cầu về phong cách công tác mà còn là một phương thức quan trọng để biến chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân thành sức mạnh hiện thực ngay từ cơ sở; từ đó tạo nền tảng vững chắc để xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc và góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Đại tá, Th.S Vũ Trọng Đại
Trường Sĩ Quan Lục quân 1
[1] Tác phẩm “Dân vận” 15/10/1949, Báo Sự thật, Số 120.



