Quân sự - Quốc phòng

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

NGƯỜI MẸ HẢI LĂNG

Hơn nửa thế kỳ đã trôi qua, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Đào Thị Vui ở thôn Đại An Khê, xã Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị vẫn giữ gìn chiếc nói đóng, một hiện vật minh chứng cho niềm son sắt của mẹ với cách mạng trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Mẹ Đào Thị Vui sinh năm 1923 tại xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, nay là xã Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị và sớm giác ngộ, tham gia hoạt động cách mạng ngay từ khi còn trẻ. Người bạn đời của mẹ là ông Lê Hồi, một du kích địa phương gan dạ, kiên trung. Hai con người cùng chung lý tưởng đã nên duyên trong những năm kháng chiến đầy gian khổ. Nhưng hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, năm 1949, trong một lần làm nhiệm vụ, ông Hồi bị địch bắt. Dù bị tra tấn dã man nhưng ông vẫn giữ trọn khí tiết của người chiến sĩ cách mạng và đã hy sinh. Ngày nhận tin chống hy sinh, mẹ lặng lẽ gạt nước mắt, cùng người con trai duy nhất vực dậy ý chí, tiếp tục đi theo con đường chồng mình đã chọn.

Mẹ Việt Nam anh hùng Đào Thị Vui tại Lễ mừng thọ tròn 100 tuổi - năm 2023.

 

Được nuôi dưỡng trong truyền thống yêu nước của gia đình, anh Lê Thịnh, con trai mẹ sớm tham gia cách mạng khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Năm 1966, vừa tròn 20 tuổi, anh bị địch bắt và đày ra Nhà tù Phú Quốc. Gần một năm bị giam cầm trong "địa ngục trần gian", phải chịu đủ mọi cực hình tra tấn, nhưng anh nhất quyết không khai báo. Không khuất phục được ý chỉ của người chiến sĩ trẻ, địch buộc phải trả tự do cho anh. Trở về quê hương, mang trên mình nhiều thương tích, anh lập tức nối lại liên lạc với tổ chức, tiếp tục dấn thân vào những địa bản hoạt động gian khổ, nguy hiểm nhất.

Đến năm 1970, mẹ Vui nhận tin người con trai duy nhất đã anh dũng hy sinh. Nỗi đau mất chồng, nay lại thêm mất con khiến lòng mẹ đau thắt. Nhưng mẹ hiểu rằng, sự hy sinh của chồng và con không chỉ là mất mát của riêng gia đình mình mà còn là sự cống hiến cao cả cho Tổ quốc. Chính niềm tin ấy đã giúp mẹ gượng dậy, tiếp tục gắn bó với cách mạng cho đến ngày đất nước thống nhất.

Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, ngôi nhà nhỏ của mẹ trở thành một cơ sở cách mạng bí mật. Dưới nền đất, dưới đống rơm giữa sân là những căn hầm bị mất được ngụy trang khéo léo để cán bộ, chiến sĩ trú ẩn mỗi khi địch càn quét. Ban ngày, ngôi nhà vẫn như bao mái nhà nông dân khác, nhưng khi màn đêm buông xuống, nơi đây lại âm thầm trở thành điểm dừng chân của những người chiến sĩ cách mạng. Mỗi lần mở nắp hầm đón cán bộ xuống trú ẩn hay lặng lẽ mang cơm nước đến tiếp tế, mẹ đều hiểu rằng mình đang đối mặt với lần ranh rất mong manh giữa sự sống và cái chết...

Biết mẹ là người nuôi giấu, tiếp tế cho cách mạng, quân địch nhiều lần theo dõi rồi bất ngờ ập vào lục soát. Không tìm được hầm bí mật, chúng trút cơn cuồng nộ lên người mẹ. Chúng đổ nước xà phòng vào miệng, dùng gậy gỗ đánh đập dã man, tra khảo liên tục để buộc mẹ khai nơi cán bộ đang ấn nâu. Có những lần mẹ bị đánh đến ngất lịm. Khi mẹ tỉnh lại, câu hỏi: "Mày giấu cộng sản ở đâu?" của kẻ thủ vẫn lập đi lặp lại, nhưng đáp lại vẫn chỉ là sự im lặng.

Giờ đây, trong căn bếp nhỏ vẫn còn một kỷ vật được mẹ gìn giữ suốt hơn nửa thế kỷ. Đó là chiếc nói đồng đã ngả màu thời gian. Đôi bàn tay gầy guộc của mẹ khẽ vuốt lên vành nổi như chạm vào một phần ký ức chưa bao giờ phai nhạt. Mẹ chậm rãi kể: “Chiếc nồi này ngày trước dùng để nấu cơm cho hơn 20 cán bộ, chiến sĩ ăn trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất".

Chiếc nồi đồng không chỉ là vật dụng quen thuộc mà còn là vật chứng của một thời kháng chiến đấy gian khó. Đằng sau mỗi bữa cơm nuôi cán bộ, chiến sĩ là biết bao nhọc nhằn và hiểm nguy. Sợ địch phát hiện trong nhà có nhiều người ăn nên mỗi lần xay thóc, mẹ đều lặng lẽ mang trấu đi chôn để xóa dấu vết. Có lần, vừa mua được ít thực phẩm ngoài chợ thì bị địch cướp sạch, mẹ lại gõ cửa từng nhà trong xóm xin nhúm muối, hạt vừng... để các anh có bữa cơm trước khi lên đường làm nhiệm vụ.

Ngày ấy, nấu một bữa cơm cho bộ đội cũng là một cuộc đấu trí âm thắm với kẻ thù. Từng hạt gạo, từng bỏ rau đều phải cất giấu kín đáo, mọi dấu vết sau mỗi lần nấu nướng đều được xóa sạch để bảo vệ cơ sở cách mạng. Những nằm cơm mẹ gói đã tiếp thêm sức lực cho những người lĩnh giữa mưa bom, bão đạn và cũng là sự động viên thầm lặng của hậu phương dành cho tiền tuyến. Với mẹ, chỉ cần các anh được ăn no, được bình yên rời căn hầm bí mật để tiếp tục lên đường chiến đấu thì mọi gian khố, hiểm nguy mẹ đều sẵn sàng đối mặt.

Ghi nhận những đóng góp của mẹ trong hai cuộc kháng chiến, Đảng và Nhà nước đã trao tặng mẹ nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Năm 1994, mẹ vinh dự được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Bài, ảnh: TRÀ MỲ


Các tin khác

Tin đọc nhiều