A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Chiến thắng Tây Nguyên - bước trưởng thành vượt bậc của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên 1975

Năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung, Chiến dịch Tây Nguyên (mật danh A275) được mở nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng các tỉnh Đắk Lắk, Phú Bổn, Quảng Đức, thực hiện chia cắt và tạo thế chiến lược mới trên chiến trường miền Nam. Thắng lợi của Chiến dịch không chỉ làm thay đổi căn bản cục diện chiến trường mà còn mở ra thời cơ chiến lược để quân và dân ta phát triển tiến công, tiến tới toàn thắng trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Thực tiễn thắng lợi Chiến dịch Tây Nguyên đã để lại nhiều bài học quý báu về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân, đặc biệt đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của bộ đội chủ lực trên các phương diện tổ chức lực lượng, bảo đảm vũ khí, trang bị và nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Nổi bật là sự phát triển về nghệ thuật tạo và nắm thời cơ cơ động lực lượng; nghệ thuật nghi binh lừa địch; nghệ thuật lựa chọn mục tiêu trận then chốt quyết định trong chiến dịch.

Tây Nguyên – địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng – được Bộ Chính trị lựa chọn làm hướng tiến công chủ yếu mở màn cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1975. Quyết định đó thể hiện tầm nhìn chiến lược sắc bén của Đảng, đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao đối với bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên trong tổ chức lực lượng và nghệ thuật tác chiến chiến dịch.

Nghệ thuật tạo, nắm thời cơ điều chuyển lực lượng bộ đội chủ lực

Chiến dịch Tây Nguyên là đòn tiến công then chốt, bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, đánh vào nơi hiểm yếu nhất của địch trên chiến trường miền Nam và giành thắng lợi quan trọng, làm thay đổi căn bản cục diện chiến trường, mở ra thời cơ chiến lược, rút ngắn Kế hoạch giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi đó đánh dấu bước phát triển vượt bậc của nghệ thuật quân sự Việt Nam, trong đó có nghệ thuật tạo và nắm thời cơ.

Bước sang năm 1974, trước sức tiến công liên tục, rộng khắp của ta, kế hoạch “bình định” của địch đứng trước nguy cơ phá sản, sa sút về tinh thần buộc phải căng kéo, phân tán lực lượng đối phó trên nhiều hướng chiến trường. Ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên, địch bố trí lực lượng lớn; co cụm ở các thị xã và một số vị trí quan trọng. Với ý đồ, ngăn chặn và đối phó các cuộc tiến công của ta từ phía Bắc, còn khu vực Nam Tây Nguyên tương đối sơ hở.

Quân Giải phóng đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy quân Sài Gòn tại Buôn Ma Thuột, ngày 11-3-1975. Ảnh tư liệu 

 

Nắm chắc thời cơ đó, ta chủ động tạo thế và thời cơ có lợi; từng bước xây dựng, bố trí, điều chỉnh thế trận, tổ chức các hoạt động tác chiến tạo thế. cải tạo môi trường chiến trường và chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho bộ đội chủ lực tiến công khi thời cơ xuất hiện.

Bộ Tổng Tư lệnh đã tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên lực lượng, vũ khí, trang bị, bảo đảm khối chủ lực đủ khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn và có sức cơ động cao. Các sư đoàn bộ binh được bổ sung thêm quân số, tăng cường thêm trung đoàn pháo binh; lực lượng xe tăng, phòng không, thông tin, đặc công được kiện toàn tổ chức, bổ sung trang bị hiện đại, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện tác chiến chiến dịch quy mô lớn.

Để tạo thế vững chắc cho các đơn vị chủ lực đứng chân ở những vị trí hiểm yếu, quan trọng, ngay từ năm 1974, ta sử dụng một số đơn vị bộ đội chủ lực đánh chiếm bàn đạp chiến dịch, tạo lập được thế trận ban đầu vững chắc, hình thành thế đánh, thế giữ thuận lợi. Cùng với đó, nhằm phát triển thế và lực của ta, làm suy yếu thế và lực của địch, tạo thời cơ thuận lợi bảo đảm chắc thắng cho trận then chốt mở đầu ở Buôn Ma Thuột, ta tích cực đẩy mạnh hoạt động nghi binh lừa dụ địch về hướng Trị - Thiên và thu hút, kìm giữ chủ lực địch ở Bắc Tây Nguyên, khiến chúng phán đoán và hành động sai lầm, tạo điều kiện thuận lợi cho ta giữ bí mật, bất ngờ về ý định Chiến dịch. Nhờ đó, ta “trói chặt” địch, tạo thời cơ thuận lợi để bí mật cơ động, triển khai lực lượng, phương tiện, tiến hành trận then chốt mở đầu Chiến dịch giành thắng lợi.

Khi địch bộc lộ sơ hở, rơi vào thế bị động đối phó theo ý định, nghi binh, lừa dụ của ta, bộ đội chủ lực tận dụng thời cơ, nhanh chóng cơ động lực lượng bao vây tiêu diệt lực lượng phản kích chủ yếu của địch khi chúng vừa đổ bộ, buộn phải rút bỏ Tây Nguyên. Trước tình thế không thể chống đỡ, lực lượng địch với khoảng 15 nghìn quân tạo nên một cuộc “tháo chạy hỗn loạn của một đoàn quân bại trận thảm hại”6 theo Đường số 7 về hướng Phú Bổn. Sai lầm về chiến lược của địch dẫn đến hàng loạt sai lầm về chiến dịch và chiến thuật tiếp theo và đây là thời cơ thuận lợi để ta tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy trong trạng thái tinh thần hoang mang, rối loạn chỉ huy, hiệp đồng thiếu chặt chẽ, lộ rõ nhiều sơ hở.

Nghệ thuật nghi binh lừa địch

Ngày 9/1/1975, Quân ủy Trung ương họp, triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến dịch Tây Nguyên, trong đó xác định Buôn Ma Thuột là mục tiêu then chốt. Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ngày từ đầu tháng 2-1975, sau khi tiếp nhận trận địa ở khu vực phía Bắc tỉnh Kon Tum và phía Tây tỉnh Pleiku của Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 để lại, các Trung đoàn 19, 29 của Sư đoàn 968 đã tổ chức trinh sát, bắn tỉa, pháo kích, đánh địch lấn ra ngoài như các hoạt động các đơn vị trước vẫn làm. Đồng thời, đơn vị đẩy mạnh các hoạt động chuẩn bị chiến trường như làm đường cơ động, tung các toán trinh sát vào thị xã Kon Tum, tăng thêm lực lượng ra phía trước, củng cố công sự, làm trận địa pháo, dùng xe vận chuyển gạo, đạn từ phía sau ra Võ Định... Trước các hoạt động này, đầu tháng 2, địch phải điều Liên đoàn 6 từ phía sau lên phía Bắc tỉnh Kon Tum, nống ra Bắc cao điểm 751, nhưng bị ta đánh trả quyết liệt, buộc phải lùi lại. Trung đoàn 19 đã tổ chức cho công binh phối hợp với dân quân và Nhân dân các làng phía tây Pleiku sửa lại các tuyến đường cơ động cho xe, pháo, mở mới những đoạn đường ở gần các mục tiêu địch trên Quốc lộ 19 tây, 5A, 5B. Công binh nổ bộc phá san đường ngầm qua các suối cạn, cố tình để lộ ý định. Các trận địa phòng ngự ở tuyến phía tây Gia Lai như Chư Kra, điểm cao 631 trên Đường 5A, 5B, Quốc lộ 19 được lệnh sửa chữa gấp, để làm bàn đạp cho các lực lượng phía sau lên tiến công. Các tổ trinh sát tăng cường trinh sát thị xã Pleiku, trục Đường 14 đoạn Pleiku - Hàm Rồng và đột nhập vào Bầu Cạn (đông quận lỵ Thanh An) và Chư Gôi, bắt tù binh địch để khai thác thông tin... Các hành động trên khiến địch càng tin rằng ta đã tăng cường bố phòng chặt chẽ ở phía tây Pleiku, chuẩn bị cho chiến dịch quân sự sắp xảy ra ở Bắc Tây Nguyên.

  Bộ đội truy kích địch trong Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệu

 

Ở phía Tây tỉnh Pleiku, sở chỉ huy sư đoàn với mật danh là “Bộ Tư lệnh B3” đã tăng các phiên liên lạc bằng vô tuyến điện và tăng thời lượng các bức điện chỉ đạo tác chiến cho "Sư đoàn 10" và "Sư đoàn 320". Các máy bay của địch liên tục quần thảo ở tây Pleiku để định vị các đài vô tuyến điện và xác định vị trí sở chỉ huy của ta. Máy bay B57 đánh bom tọa độ vào các khu vực nghi có lực lượng ta. Có lần, chúng đã đánh trúng sở chỉ huy sư đoàn ở khu vực Đức Cơ. Cùng với hệ thống thông tin vô tuyến điện của 2 sư đoàn để lại nguyên như cũ với tần suất liên lạc của mạng thông tin vô tuyến điện của Sư đoàn 968 tăng lên, địch càng tin chắc mục tiêu của quân ta Xuân 1975 là Bắc Tây Nguyên.

14 giờ ngày 28-2-1975, trận đánh nghi binh mở màn Chiến dịch Tây Nguyên bắt đầu. Các loại hỏa lực của Sư đoàn 968 đồng loạt bắn phá các mục tiêu: Thị xã Pleiku, sân bay Cù Hanh, căn cứ Hàm Rồng, thị xã Kon Tum, sau đó bộ binh thực hành tiến công địch trên cả hai hướng Kon Tum và Pleiku. Trên phía Tây Đường 19, hỏa lực ta, đặc biệt là pháo 85 bắn thẳng nhằm vào từng lô cốt, nhà ở của địch ở Đồn Tầm nổ súng, sau đó pháo, cối, ĐKZ đánh phá các mục tiêu còn lại. Chỉ trong 2 giờ, một loạt 3 cứ điểm của địch ở Tây Thanh An đã bị tiêu diệt, ta đã giải phóng một tuyến phòng ngự của địch ở phía tây Pleiku 5km theo Quốc lộ 19. Trên hướng bắc Kon Tum, ta nhanh chóng đánh chiếm trận địa nam cống Ba Lỗ trên Đường 14, dãy điểm cao Ngọc Quăn, áp sát thị xã.

Các ngày 1 và 2-3, ta tiếp tục ép địch ở Tây Pleiku và Bắc Kon Tum, đưa công binh chốt ở Bầu Cạn trên Đường 19 và cắt Đường 14 Kon Tum - Pleiku, làm cho địch càng tin chiến dịch tiến công của ta vào Bắc Tây Nguyên đã bắt đầu. Kết quả là sáng 3-3-1975, Phạm Văn Phú vội vã điều Trung đoàn 45, Sư đoàn 23 từ Ea H’leo tức tốc về lại Tây thị xã Pleiku. Thế là toàn bộ chủ lực Quân đoàn 2 địch đã bị giữ chắc ở Bắc Tây Nguyên. Điều đáng nói thêm là, mãi đến ngày 8 và 9-3, khi ta đánh vào quận lỵ Thuần Mẫn và quận lỵ Đức Lập, khiến Buôn Ma Thuột bị “lộ sáng” mà Phạm Văn Phú vẫn không đoán biết được ý đồ tác chiến. Mãi đến 4 giờ sáng ngày 10-3, khi xe tăng của ta đã tiến vào Buôn Ma Thuột, Đại tá Lê Khắc Hy, Tham mưu trưởng Quân khu 2 – Quân đoàn 2 ngụy vào phòng ngủ đánh thức, Phú mới biết Buôn Ma Thuột là mục tiêu chính của ta thì đã quá muộn.

Chính việc nghi binh tốt đã tạo điều kiện để ta nhử chủ lực của địch đến nơi khác mà khó quay lại để bảo vệ. Nghệ thuật nghi binh trong Chiến dịch Tây Nguyên sẽ tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng trong tác chiến bảo vệ Tổ quốc hiện nay và sau này. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất để thực hiện thành công nghi binh chính là kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ trong các hành động mà mấu chốt là thực hiện đúng ý định của người chỉ huy. Bởi chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng để đối phương nghi ngờ và phán đoán chính xác ý đồ, tổ chức phòng bị. Như vậy, việc tạo thế sẽ khó thực hiện được như ý định ban đầu.

Nghệ thuật xác định, lựa chọn mục tiêu đánh trận then chốt quyết định của bộ đội chủ lực trong chiến dịch

Chiến dịch với lực lượng, thế trận và mưu lược vượt trội, ta đã giành thắng lợi giòn giã trong trận then chốt quyết định mở đầu Chiến dịch. Thắng lợi của trận Buôn Ma Thuột không chỉ có ý nghĩa chiến dịch mà còn là thắng lợi chiến lược và khẳng định bước phát triển trưởng thành về nghệ thuật lựa chọn mục tiêu đánh trận then chốt của bộ đội chủ lực.

Trong chiến dịch có 3 trận then chốt; trong đó, trận tiến công thị xã Buôn Ma Thuột là trận đánh then chốt mở đầu và cũng là trận then chốt quyết định của Chiến dịch. Đây là trường hợp hi hữu trong lịch sử chiến tranh; đồng thời, cũng là nét đặc sắc, độc đáo của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Mũi tiến quân của quân giải phóng vào thị xã Buôn Ma Thuột 

 

Trên cơ sở kế thừa thế trận chiến lược và quá trình tích cực tạo thế, tạo lực trực tiếp cho trận đánh, ngày 10 và ngày 11/3/1975, dưới sự chi viện mạnh mẽ của pháo binh, xe tăng, quân và dân ta (nòng cốt là Sư đoàn 316, Trung đoàn 95B, Trung đoàn Đặc công 198) thực hành tiến công địch ở Buôn Ma Thuột. Sau 33 giờ tiến công mãnh liệt, ta đã giải phóng hoàn toàn Thị xã với khoảng 12 vạn dân; tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã 10.210 tên địch, thu và phá huỷ toàn bộ vũ khí, khí tài cùng hàng ngàn tấn vật chất khác. Thắng lợi to lớn, toàn diện của trận Buôn Ma Thuột đã: “tạo ra đột biến về chiến dịch, dẫn đến đột biến về chiến lược, gây tác động dây chuyền, tạo thời cơ cho những trận then chốt tiếp sau, tạo nên bước ngoặt quyết định của sự phát triển chiến dịch và cả chiến lược dẫn đến sự phá vỡ chiến lược”, đây là một trận đánh hay, có nhiều nét đặc sắc, sáng tạo về nghệ thuật quân sự.

Lựa chọn mục tiêu tiến công chính xác, tạo lập thế trận vững chắc đánh trận then chốt quyết định. Trong kế hoạch chiến lược hai năm 1975 - 1976, quyết tâm của Bộ Chính trị là hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam, nhưng năm 1975 là năm bản lề tạo điều kiện cho năm 1976 giành thắng lợi cuối cùng. Hướng chiến lược của bộ đội chủ lực trong năm 1975 được dự kiến mở ra trên hai hướng: miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Sau nhiều lần bàn bạc, trao đổi, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã xác định chiến trường Tây Nguyên là hướng chiến lược chủ yếu và thị xã Buôn Ma Thuột được chọn làm mục tiêu cho trận then chốt quyết định khâu đột phá của Chiến dịch Tây Nguyên. Đây là sự lựa chọn chính xác, được cấp chiến dịch, chiến lược của ta phân tích, đánh giá tình hình đúng đắn, khoa học.

Để thực hiện quyết tâm tiêu diệt địch ở Buôn Ma Thuột trong trận then chốt đầu tiên Chiến dịch, cùng với các hoạt động nghi binh, ta đã bí mật tạo lập thế trận tiến công vững chắc, linh hoạt ở Nam Tây Nguyên cho bộ đội chủ lực. Theo đó, việc tổ chức trinh sát chuẩn bị chiến trường được tổ chức chặt chẽ ở tất cả các cấp. Các đơn vị bộ binh, binh chủng tổ chức trinh sát xác định các vị trí: xuất phát tiến công, đường cơ động, các mục tiêu vòng ngoài, phần tử bắn và hướng phát triển trong Thị xã. Các tổ, đội công binh xác định bến vượt, phương án khắc phục vật cản trên đường cơ động, bảo đảm tuyệt đối bí mật. Trung đoàn Đặc công 198, ngoài việc xác định các mục tiêu trong Thị xã, còn tổ chức lót sẵn một bộ phận lực lượng tại các vị trí xung yếu. Điều đáng nói là, mặt dù ta thiết lập thế trận trong nhiều ngày, trên địa bàn rộng, chiều sâu lớn, nhưng đã tuyệt đối giữ được bí mật, tạo bất ngờ lớn cho địch. Nhờ thế trận này, ta đã nhanh chóng hình thành các hướng, mũi tiến công thọc sâu, bao vây, chia cắt ngay từ đầu áp đảo địch và giành thắng lợi.

Đồng bào Tây Nguyên múa hát mừng chiến thắng.

 

Tạo ưu thế về lực lượng, phương tiện trong trận then chốt quyết định. Mặc dù là mục tiêu tương đối yếu và sơ hở, nhưng địch ở Buôn Ma Thuột còn đông, gồm: một trung đoàn bộ binh; Trung đoàn 8 Thiết giáp; Trung đoàn 232 Pháo binh; hậu cứ Sư đoàn 23, căn cứ của Trung đoàn 45 và 53 ngụy cùng lực lượng cảnh sát, bảo an, mật vụ, v.v. Vì vậy, việc tạo ra ưu thế vượt trội về lực lượng, phương tiện chiến đấu cho Chiến dịch nói chung, trận then chốt mở đầu Buôn Ma Thuột nói riêng có vai trò rất quan trọng. Để đáp ứng yêu cầu chiến trường, từ tháng 01-1975, Quân ủy Trung ương đã tăng cường cho Chiến dịch Tây Nguyên thêm 02 sư đoàn bộ binh cùng nhiều phương tiện chiến đấu. Theo đó, trên hướng Buôn Ma Thuột, ta tập trung lực lượng lớn, gồm: Sư đoàn 316, Trung đoàn 95B, Trung đoàn 24; Trung đoàn 198 và Tiểu đoàn 27 (Đặc công); Trung đoàn Thiết giáp 273; hai Trung đoàn Pháo binh: 40, 675; hai Trung đoàn Pháo Cao xạ: 232, 234; hai trung đoàn Công binh và một số đơn vị của lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc. Như vậy, để bảo đảm chắc thắng trận then chốt quyết định, ngoài ưu thế tuyệt đối về chính trị - tinh thần, ta đã tập trung lực lượng, phương tiện hơn địch từ 3 đến 4 lần. Cùng với đó, ta còn chủ động thực hiện tốt việc nghi binh lừa địch, buộc chúng phải phân tán đối phó, như: sử dụng mạng thông tin giả, cơ động chuyển quân và vây ép địch ở Bắc Tây Nguyên. Đặc biệt, việc tuyệt đối giữ bí mật hướng Nam và tổ chức các trận đánh hướng Kon Tum, Plâyku, Đường số 19,… đã buộc địch rút bớt lực lượng ở Nam Tây Nguyên tiếp viện cho Plây-cu, làm cho lực lượng ở Buôn Mê Thuột đã yếu lại càng yếu hơn. Nhờ đó, khi nổ súng tiến công, quân ta từ 4 hướng đồng loạt đánh vào Thị xã, tạo thế áp đảo địch và giành thắng lợi. Cũng nhờ nghệ thuật tập trung ưu thế lực lượng bộ đội chủ lực cho trận then chốt quyết định này mà chúng ta đã tạo lập và chuyển hóa thế trận vững chắc, kịp thời, đủ sức đánh bại trận phản đột kích bằng đổ bộ đường không của địch tại Phước An, hoàn thành thắng lợi trận then chốt thứ 2 của Chiến dịch. Đây là trận đánh làm cho địch không gượng dậy được, buộc phải rút bỏ Tây Nguyên, tạo thời cơ lớn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoàn cảnh và điều kiện của ta đã khác nhiều so với các cuộc kháng chiến trước đây. Ta đã có thế và lực mạnh hơn để bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ta vẫn ở trong hoàn cảnh nhỏ thắng lớn, yếu chống mạnh... Do đó, chúng ta cần tiếp tục quán triệt và cụ thể hoá những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhằm giải quyết hàng loạt vấn đề về chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật đang đặt ra cả trước mắt và lâu dài. Trong đó, phải chú trọng xây dựng bộ đội chủ lực tinh, gọn, mạnh làm nòng cốt đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Thực hiện:  Đại tá, TS LÊ QUANG TRUNG

                          Thượng tá, Ths HỒ VĂN NGUYÊN


Các tin khác

Tin đọc nhiều