A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nghe Anh hùng Đỗ Văn Chuyền kể chuyện đánh Mỹ

Ngôi nhà cấp bốn của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Chuyền tại Tổ dân phố 4 - Đông Minh, phường Đông Sơn (tỉnh Thanh Hóa) nằm nép mình sau vườn rau xanh mướt, trước sân là cây chanh trĩu quả và một cây đào đã qua mùa nở rộ. Mọi thứ giản dị đến mức khó ai nghĩ rằng, nơi đây lại là chốn đi về của một người đã từng đi qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với những chiến công lẫy lừng của lực lượng pháo cao xạ Quân khu 4.

Bên trong căn nhà, những tấm bằng khen, huân chương, ảnh kỷ niệm được treo kín tường như những dấu tích của một thời lửa đạn. Cụ Chuyền năm nay tròn 80 tuổi, mái tóc bạc trắng, đôi mắt đã vẩn đục vì thời gian, nhưng khi nhắc đến chiến trường xưa, ánh mắt ấy bỗng sáng lên, giọng nói ấm lại, rõ ràng và mạch lạc.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Chuyền, sinh năm 1946, quê ở xã Đông Minh, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Sơn), tỉnh Thanh Hoá, nhập ngũ tháng 9/1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Trưởng thành từ pháo thủ số 2 đến khẩu đội trưởng pháo cao xạ 37mm thuộc Đại đội 43, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 218, Quân khu 4, ông đã tham gia gần 300 trận đánh, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong mưa bom bão đạn, nhiều lần bị thương, ông vẫn kiên cường bám trận địa, trực tiếp chỉ huy chiến đấu, góp phần bắn rơi và bắn bị thương nhiều máy bay địch. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, năm 1970, ông vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Chuyên (ngồi giữa) cùng vợ (bên trái) và cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự phường Đông Sơn.

 

Ngồi trước người anh hùng năm xưa, tôi hỏi một câu mà có lẽ ai cũng từng muốn biết: “Ngày đó, bác có sợ không?”. Ông cười, một nụ cười hiền hậu nhưng sâu lắng: “Có chứ, sợ chết chứ, đau chứ. Ai mà không sợ. Nhưng lúc đó chỉ căm thù giặc, chỉ nghĩ đến đồng đội, nghĩ đến ngày mai hòa bình… thế là lại chiến đấu thôi”. Câu trả lời giản dị ấy khiến tôi lặng đi. Hóa ra, phía sau những chiến công là một con người rất thật, vẫn biết sợ, vẫn biết đau.

Ông kể về những năm tháng ở Vĩnh Linh, đó là những ngày “ở lại là chết”, nhưng ai cũng xung phong ở lại. Máy bay địch gầm rú trên đầu, pháo từ biển bắn vào, từ Cồn Tiên, Dốc Miếu câu sang, bộ binh địch càn quét trận địa. Bom napan, bom bi trút xuống như muốn xóa sổ tất cả. Ngày đó đạn cao xạ của ta khan hiếm. “Một xe đạn chở đến, chúng tôi đánh được hai tiếng là hết. Nên phải bình tĩnh, ngắm bắn thật chính xác, không được bắn bừa. Bom nổ sát bên, đất đá văng vào người, vẫn không rời vị trí. Có đồng chí bị cụt chân vẫn tiếp tục chiến đấu. Bị thương cũng không băng ngay, phải đánh xong trận đã” - Anh hùng Đỗ Văn Chuyền kể.

Ông kể, khi đơn vị vượt sông, tiền bạc đều cho dân hết. “Tất cả chúng tôi không ai nghĩ sẽ trở về”. Lần đơn vị bị bao vây tại điểm cao 300 Lèn Đá (Quảng Trị). Tình thế vô cùng nguy cấp. Ông nói với Chính trị viên một câu mà đến giờ nhắc lại, giọng ông vẫn run: “Chính trị viên yên tâm, chúng tôi luôn giữ cho mình một quả lựu đạn, không bao giờ để chúng bắt sống”.

Nói đến đó, ông im lặng. Đôi mắt nhòe đi. Tôi cũng không kìm được cảm xúc. Trong khoảnh khắc ấy, chiến tranh như không còn là câu chuyện của quá khứ, mà hiện hữu ngay trước mắt.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Chuyền lúc còn trẻ - Ảnh chụp lại từ tư liệu.

 

Khi nhập ngũ, Đỗ Văn Chuyền cũng như bao thanh niên khác, chỉ được huấn luyện 15-20 ngày, học xong “10 lời thề” là lên đường. Vừa chiến đấu, vừa huấn luyện. Ngày đó ông rất khoẻ, đào công sự cho mình xong là đào tiếp cho đồng đội, bao nhiêu việc nặng nhọc trong trung đội, ông luôn dành về mình, nên được mọi người rất yêu mến. Chỉ sau 3 tháng nhập ngũ, ông đã được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba. “Ngày đó học bảng bắn 12,7mm, hai ngày là thuộc lòng” - ông cười nhẹ.

Nhưng đằng sau cái “thuộc lòng” ấy là những đêm không ngủ, là áp lực sinh tử luôn rình rập. Ông kể, tại đèo Phà Ròn (gần đèo Ngang, thuộc Quảng Bình cũ), nhiều đêm báo động tới 60 - 70 lần. Hễ có máy bay địch là anh em lại lao ra trận địa. Đang ăn cơm, bom dội xuống, cát bụi bay mịt mù. Phải gạt cát đi mà ăn tiếp. Có tháng chỉ ngủ được khoảng 6 đến 7 hôm.

Ông chậm rãi kể, những ngày ở Vĩnh Linh, những trận địa đỏ lửa, những đồng đội đã ngã xuống… câu chuyện cứ thế nối dài, khi dồn dập, khi lắng lại như những nhịp ký ức chưa bao giờ nguôi ngoai. Ánh mắt ông chợt xa xăm, nhìn ra khoảng sân nhỏ, nơi cây chanh đang sai quả, lắc lư trong gió chiều. “Các cháu hãy cố gắng bảo vệ Tổ quốc, giữ lấy hòa bình” - Lời nói giản dị mà nặng trĩu, như kết lại cả một đời người đã đi qua lửa đạn, gửi gắm niềm tin và trách nhiệm cho thế hệ hôm nay.

Ngồi nghe người anh hùng kể chuyện đánh Mỹ trong những ngày tháng Tư lịch sử, tôi càng thấm thía những gì đã phải đánh đổi để có được cuộc sống hôm nay. Chia tay vợ chồng cụ khi chiều đã xuống, những câu chuyện vừa nghe cứ ngân lên như tiếng vọng của lịch sử. Thứ tôi mang về không chỉ là tư liệu cho một bài viết, mà là một nỗi xúc động sâu xa về con người, về chiến tranh và về giá trị của hòa bình hôm nay.

Bài, ảnh: CẢNH VINH


Các tin khác

Tin đọc nhiều