A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phụ nữ Việt Nam với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là trận quyết chiến chiến lược, đập tan cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp có sự can thiệp của đế quốc Mỹ; là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước, của ý chí quật cường, tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Làm nên chiến thắng vĩ đại ấy có sự đóng góp to lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của phụ nữ Việt Nam.

Phát huy truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam anh hùng, trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), phụ nữ cả nước đã góp sức mình vào từng chiến dịch, từng trận đánh, cùng quân và dân ta đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi, xứng đáng với truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.

Ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã hiện diện trên mọi chiến tuyến. Ngày 23/9/1945, khi Nhân dân Nam Bộ đồng loạt đứng lên chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, trong đội ngũ chiến đấu có đông đảo những phụ nữ với “áo bà ba, khăn rằn” kiên cường, bất khuất. Ở miền Bắc, phụ nữ tích cực động viên, ủng hộ sức người, sức của cho các đoàn quân Nam tiến lên đường chiến đấu. Trong 60 ngày đêm “Hà Nội khói lửa”, các đội “Nữ thông tin Lãng Bạc”, “Nữ du kích Hồng Hà” đã cùng quân và dân Thủ đô viết nên một “mùa Đông lịch sử”, góp phần làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của địch. Theo bước phát triển của cuộc kháng chiến, ở khắp các chiến trường Bắc, Trung, Nam, phụ nữ Việt Nam luôn là lực lượng quan trọng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa phục vụ chiến đấu, vừa làm vững chắc hậu phương kháng chiến.

Những đóng góp của Phụ nữ Việt Nam trong chiến thắng Điện Biên Phủ.

 

Cuối năm 1953, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ - chiến dịch có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định đối với cục diện cuộc kháng chiến. Để giành thắng lợi, Đảng ta đã động viên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Trong suốt quá trình chuẩn bị, diễn ra và bảo đảm cho chiến dịch, phụ nữ Việt Nam tiếp tục đóng góp sức lực, trí tuệ và tinh thần quả cảm của mình, từ tiền tuyến đến hậu phương, từ vùng tự do đến vùng tạm chiếm.

Hàng nghìn nữ dân công các tỉnh Phú Thọ, Thanh Hóa, Lào Cai, Lai Châu đã tham gia vận chuyển lương thực, vũ khí phục vụ chiến dịch. Chị em đã đóng hơn 11.600 bè nứa, sử dụng thuyền độc mộc đưa gạo về thị xã Lai Châu, từ đó tiếp tục chuyển bằng ngựa thồ, xe đạp thồ lên chiến trường Điện Biên Phủ. Những cô gái dân công Thanh Thủy (Phú Thọ), thuở đầu còn e ngại ghềnh thác, nhưng khi bước vào chiến dịch đã dũng cảm điều khiển từng mảng bè vượt dòng sông Nậm Na hiểm trở, đưa những chuyến hàng quý giá cập bến ngày một nhiều hơn, kịp thời đưa đến chiến trường.

Phụ nữ đồng bào các dân tộc tham gia dân công cùng bộ đội công binh làm đường từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ.

 

Cùng với phụ nữ miền xuôi, chị em các đồng bào dân tộc Tây Bắc như Tày, Thái, H’Mông, Dao, Nùng, Hoa, Xá… cũng tích cực tham gia phục vụ chiến dịch. Có người phụ nữ dân tộc Thái ngoài 70 tuổi vẫn tình nguyện đi chiến dịch; còn những nữ dân công tận tụy nuôi dưỡng, chăm sóc hàng trăm thương binh nơi tuyến sau và những bà mẹ nơi bản làng nghèo khó, dù trong nhà chỉ còn một ống muối vẫn kiên quyết dành tặng bộ đội... Đó là những nghĩa cử bình dị mà cao đẹp, thể hiện sâu sắc tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.

Ngày đêm vượt suối, băng rừng, chị em vận chuyển lương thực, đạn dược, tải thương, nấu cơm, tiếp nước cho bộ đội; đồng thời tham gia làm hầm, dựng lán cho thương binh, đào hào, bắc cầu, sửa đường… Dù ở vị trí nào, các bà, các mẹ, chị em cũng âm thầm cống hiến, góp phần quan trọng bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tạo nên sức mạnh cho mặt trận.

Dân công tỉnh Phú Thọ vận tải gạo phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.

 

Cùng với lực lượng dân công hỏa tuyến, phụ nữ ở tuyến sau cũng tích cực đảm đương nhiệm vụ hậu phương Quân đội. Chị em luân phiên đến thăm hỏi, động viên, giúp đỡ gia đình các chiến sĩ, dân công đang làm nhiệm vụ ngoài mặt trận; giúp thu hoạch mùa màng, hỗ trợ cày, cấy, thu hoạch mùa màng, sửa sang nhà cửa, ổn định đời sống cho thân nhân bộ đội để người ra trận yên tâm chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

Từ thực tiễn đó, “Hội mẹ chiến sĩ” được thành lập ở nhiều địa phương, thu hút trên 500.000 hội viên tham gia. Không chỉ chăm lo hậu phương, các hội còn đẩy mạnh phong trào chăm sóc thương binh, quyên góp, gửi quà, gửi thư động viên bộ đội ngoài mặt trận. Phong trào đón thương binh về chăm sóc được hưởng ứng rộng khắp; hàng vạn lá thư cùng hàng nghìn gói quà gồm thuốc lào, xà phòng, thuốc đánh răng, thuốc chữa bệnh, quần áo… được chị em chắt chiu gửi ra tiền tuyến. Những món quà tuy mộc mạc nhưng chan chứa nghĩa tình hậu phương, trở thành nguồn động viên tinh thần to lớn, tiếp thêm ý chí và quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ nơi chiến hào Điện Biên.

Ở vùng địch tạm chiếm, hưởng ứng khí thế kháng chiến của cả nước và phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ trong Đông Xuân 1953-1954, phụ nữ các địa phương đã đẩy mạnh nhiều hình thức đấu tranh linh hoạt, sáng tạo, góp phần làm suy yếu hậu phương chiến tranh của thực dân Pháp, phân tán lực lượng, giảm nguồn bổ sung binh lực cho chiến trường Điện Biên.

Phụ nữ dân tộc Nùng tải đạn ra Chiến dịch.

 

Tại đồng bằng Liên khu III, thực hiện chỉ đạo của Liên khu ủy, tổ chức Hội Phụ nữ tăng cường tuyên truyền, giáo dục, giúp chị em nhận rõ bản chất xâm lược, phản động của thực dân Pháp và tay sai; kiên quyết đấu tranh làm thất bại các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, chống phá các tổ chức đoàn thể giả hiệu do địch lập ra; đồng thời tích cực xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng tạm chiếm, nhất là ở những địa bàn trọng điểm và vùng đồng bào Công giáo. Cùng với đó, phong trào đấu tranh đòi giữ chồng con, chống bắt lính, chống áp bức, bóc lột, phản đối sưu thuế nặng nề được chị em hưởng ứng mạnh mẽ, tạo thành làn sóng đấu tranh rộng khắp trong quần chúng.

Không chỉ trực diện đấu tranh chính trị, phụ nữ còn làm tốt công tác địch vận bằng nhiều hình thức mềm dẻo nhưng hiệu quả. Những câu hát, lời ru, câu vè mộc mạc mà sâu sắc được chị em sử dụng để thức tỉnh lương tri binh lính ngụy, vận động họ rời bỏ hàng ngũ địch hoặc bí mật giúp đỡ cách mạng. Có nơi, chị em tổ chức hình thức “khốc dạ” - tiếng khóc ai oán, day dứt của những người vợ, người mẹ có chồng con bị bắt đi lính làm lay động mạnh mẽ tinh thần binh lính, khiến không ít người dao động, thức tỉnh trước cuộc chiến phi nghĩa.

Tại Hà Đông, Hội Phụ nữ đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với vợ, mẹ ngụy binh để tuyên truyền, vận động đấu tranh giữ người thân không bị lôi kéo vào bộ máy chiến tranh của địch. Từ cuối năm 1953 đến tháng 7-1954, toàn địa bàn đã diễn ra hơn 200 cuộc đấu tranh lớn nhỏ, giữ được 9.207 thanh niên không bị bắt lính. Ở huyện Phú Xuyên, riêng tháng 2/1954, địch 19 lần tổ chức vây ráp bắt thanh niên nhưng đều bị Hội Phụ nữ cùng Nhân dân kiên quyết đấu tranh ngăn chặn. Tại xã Văn Thụy, huyện Thanh Oai, dù địch tiến hành tới 36 cuộc vây bắt, song với sự phối hợp chặt chẽ giữa phụ nữ, thanh niên và cơ sở cách mạng, âm mưu của chúng đều thất bại.

Phụ nữ tỉnh Cao Bằng đi dân công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. 

 

Trước yêu cầu bổ sung lực lượng phục vụ Kế hoạch Na-va, thực dân Pháp ráo riết bắt lính trên diện rộng, không chỉ bắt nam thanh niên mà ở nhiều nơi còn cưỡng ép cả nữ thanh niên tham gia lực lượng phục vụ chiến tranh. Trước tình hình đó, ngày 9/3/1954, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị về chống bắt lính, xác định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, trong đó giao nhiệm vụ quan trọng cho phụ nữ trực tiếp tham gia phá kế hoạch bắt lính của địch.

Thực hiện chủ trương của Đảng, phong trào đấu tranh chống bắt lính phát triển mạnh ở nhiều địa phương. Tại Nam Định, các cuộc đấu tranh đầu năm 1954 đã buộc quân Pháp phải trả tự do cho 450 thanh niên bị bắt. Ngày 18-3-1954, khi địch bắt hàng nghìn thanh niên ở xã Mỹ Hưng, Hội Phụ nữ xã đã vận động hơn 2.000 người, phần lớn là phụ nữ, kéo đến đồn Đặng Xá đấu tranh đòi người. Cuộc đấu tranh kéo dài suốt 3 ngày đêm; chị em kiên trì bao vây đồn bốt, nấu cơm tại chỗ, quyết không để địch chuyển số thanh niên bị bắt đi nơi khác, cuối cùng buộc chúng phải nhượng bộ.

Trong tháng 3 và tháng 4/1954, phong trào chống bắt lính ở Hà Nội, Sơn Tây và nhiều địa phương vùng tạm chiếm diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú như vận động bỏ ngũ tập thể, tổ chức đánh tháo từng tốp thanh niên bị bắt, che giấu người trốn lính, rải truyền đơn kêu gọi binh lính trở về với nhân dân. Nhiều gia đình trong hàng ngũ địch được phụ nữ vận động đã gọi chồng, con trở về hoặc khuyên họ không tiếp tay gây tội ác với đồng bào.

Cùng với đấu tranh chính trị và địch vận, phụ nữ vùng tạm chiếm còn trực tiếp tham gia lực lượng du kích ngày càng đông đảo, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, linh hoạt. Nhiều tấm gương chiến đấu tiêu biểu đã xuất hiện: nữ du kích Nam Dư Thượng mưu trí gài mìn tiêu diệt sĩ quan Pháp; nữ du kích Thanh Trì dùng chính đôi quang gánh làm vũ khí đánh địch; chị em du kích Long Biên bám trụ kiên cường ở khu vực ven sông gần sân bay Gia Lâm, đào hầm bí mật, ngụy trang, kiên trì nắm tình hình địch, xây dựng cơ sở cho cách mạng hoạt động.

Đồng bào dân tộc Thái địu gạo phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.

 

Nhờ sự bền bỉ, gan dạ và tinh thần bám đất, bám dân, đến tháng 4/1954, lực lượng du kích Gia Lâm đã trở thành chỗ dựa quan trọng cho bộ đội chủ lực trong trận tập kích sân bay Gia Lâm, góp phần đánh phá 18 máy bay địch. Tại Hưng Yên, ngày 17/01/1954, nữ du kích Trần Thị Tí đã anh dũng hy sinh trước ngày cưới của mình, tiêu diệt một tiểu đội lính lê dương và đánh sập một góc đồn Triều Dương, để lại tấm gương sáng ngời về tinh thần chiến đấu quả cảm của phụ nữ Việt Nam.

Không chỉ trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu, phụ nữ còn là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho các trận đánh của bộ đội chủ lực trên khắp các chiến trường. Trước mỗi trận đánh, chị em làm nhiệm vụ liên lạc, trinh sát, nắm tình hình địch; trong chiến đấu, phụ trách nấu cơm, tiếp nước, tải thương, bảo đảm hậu cần; sau trận đánh lại tận tình chăm sóc thương binh, ổn định địa bàn, bảo vệ cơ sở cách mạng. Điển hình cho sự phối hợp hiệu quả giữa phụ nữ và bộ đội là trận tập kích sân bay Cát Bi. Mặc dù địch càn quét ác liệt, phá làng, phá xóm, lập “vành đai trắng” quanh sân bay, song phụ nữ xã Hòa Nghĩa, huyện Kiến Thụy (Kiến An) vẫn kiên trung bám trụ, giữ vững cơ sở cách mạng. Trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, chị em vừa nuôi giấu, bảo vệ cán bộ quân báo, vừa bí mật theo dõi hoạt động của địch ở sân bay, ban đêm làm giao liên chuyển tin tức về đơn vị. Khi bộ đội chủ lực cơ động về chuẩn bị chiến đấu, phụ nữ địa phương đã lo chu đáo nơi ăn, nghỉ, giữ bí mật tuyệt đối, góp phần quan trọng bảo đảm cho trận đánh đêm 7/3/1954 giành thắng lợi lớn, phá hủy 59 máy bay địch.

Bằng trí tuệ, lòng quả cảm và tinh thần cách mạng kiên trung, phụ nữ ở vùng địch hậu, vùng tạm chiếm đã tạo nên một mặt trận đấu tranh rộng khắp, vừa làm rối loạn hậu phương chiến tranh của địch, vừa trực tiếp góp phần chia lửa với mặt trận Điện Biên Phủ, đóng góp thiết thực vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Nữ hộ lý tận tình bón từng thìa sữa, cháo cho thương binh của ta ngoài hỏa tuyến Điện Biên Phủ, năm 1954.

 

Hưởng ứng và sẻ chia với mặt trận Điện Biên Phủ, ở các vùng tự do miền Trung, Việt Bắc và Nam Bộ, phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy mạnh mẽ tinh thần “đảm nhiệm công tác hậu phương, thay thế nam giới ra tiền tuyến”, trở thành lực lượng nòng cốt trên mặt trận sản xuất, bảo đảm hậu cần và động viên sức người, sức của cho kháng chiến. Trên đồng ruộng, trong các tổ đổi công, hợp tác sản xuất và phong trào thi đua lao động, hàng triệu phụ nữ ngày đêm bám đất, bám làng, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, đóng góp lương thực, thực phẩm phục vụ tiền tuyến. Cùng với đó, phong trào trồng bông, dệt vải phát triển mạnh ở nhiều liên khu, góp phần quan trọng bảo đảm nhu cầu quân trang cho bộ đội. Không chỉ tích cực lao động sản xuất, chị em còn hăng hái tham gia mua công phiếu kháng chiến, đóng góp tài chính, chung sức cùng Chính phủ bảo đảm nguồn lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

Ở nhiều địa phương, phụ nữ tiếp tục động viên chồng, con, anh em lên đường chiến đấu; đồng thời trực tiếp tham gia dân quân du kích, giữ làng, giữ đất, bảo vệ thành quả cách mạng. Cuộc vận động giảm tô, giảm tức, thực hiện chủ trương “người cày có ruộng” cũng nhận được sự hưởng ứng sâu rộng của đông đảo phụ nữ nông thôn, tạo thêm động lực chính trị, tinh thần và vật chất cho hậu phương kháng chiến.

Tại các đô thị và vùng tạm chiếm, chị em tiểu thương cũng kiên cường đấu tranh chống các chính sách bóc lột, tăng thuế, cướp bóc của địch bằng nhiều hình thức linh hoạt như kiến nghị, cử đại biểu, biểu tình phản đối… Qua đó góp phần cổ vũ tinh thần đấu tranh của quần chúng, làm suy giảm khả năng huy động nguồn lực chiến tranh của thực dân Pháp. Đặc biệt, trong thời gian diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng nữ dân công hỏa tuyến đã đóng góp 2.318.000 ngày công, chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số ngày công phục vụ chiến dịch. Hàng vạn phụ nữ trực tiếp gùi hàng, tải đạn, tải thương, mở đường, bảo đảm hậu cần cho chiến trường; nhiều tập thể, cá nhân lập thành tích xuất sắc, trở thành những bông hoa đẹp trong phong trào thi đua yêu nước thời kháng chiến.

Ngày 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đánh dấu thắng lợi vang dội của quân và dân ta. Trong chiến công lịch sử ấy có phần đóng góp to lớn, bền bỉ và đầy hy sinh của phụ nữ Việt Nam - những người mẹ, người chị, người vợ vừa là hậu phương vững chắc, vừa là lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và bảo vệ cách mạng. Những đóng góp thầm lặng mà cao cả ấy đã tô thắm thêm truyền thống anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của phụ nữ Việt Nam; đồng thời khẳng định một chân lý: Trong mọi chặng đường đấu tranh cách mạng của dân tộc, ở đâu Tổ quốc cần, ở đó luôn có bóng dáng người phụ nữ Việt Nam kiên cường, tận tụy và giàu đức hy sinh.

Thực hiện: Đại tá, TS LÊ QUANG TRUNG; Trung tá, CN HOÀNG THỊ THÚY


Các tin khác

Tin đọc nhiều