Người về đem tới mùa xuân-Bài 1: Pác Bó in dấu chân Người
Cách đây 85 năm, mùa xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, tại xóm Pác Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mở ra bước ngoặt đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sự kiện lịch sử ấy để lại những giá trị to lớn, tiếp tục soi đường cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Bài 1: Pác Bó in dấu chân Người
Chúng tôi cúi mình bước qua cửa hang đá nhỏ hẹp, lần theo dòng suối Lênin trong vắt, đi giữa bản làng Pác Bó bình dị, thơ mộng với rất nhiều kỷ vật thiêng liêng gắn liền với “Ông Ké”. Nơi ấy, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về, khởi đầu cho một chặng đường lịch sử cách mạng.
Đất thiêng hội tụ anh hào
Từ trung tâm tỉnh Cao Bằng, chúng tôi về thăm xóm Pác Bó-chiếc nôi của cách mạng Việt Nam. Vùng rừng núi trùng điệp này nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Cao Bằng, thuộc xã Trường Hà. Theo người dân địa phương, ngày trước đây là đoạn đường hẻo lánh, khó đi, nhất là từ ngã ba Đôn Chương vào biên giới bởi phải qua nhiều mỏm đá tai mèo. Nay đoạn đường được mở rộng, đường nhựa nối bờ Bằng Giang quanh co, uốn khúc, đôi lúc có những thác nước đổ xuống như những dải lụa bạc, chạy vào đến tận suối Lênin.
Xe chúng tôi dừng lại trước lối vào Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó. Không gian mở ra khoáng đạt, yên bình. Bên trái là Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà trưng bày; bên phải là Km0-điểm đầu của Đường Hồ Chí Minh. Xóm Pác Bó nằm ở rìa một thung lũng hẹp, bốn bề đồi núi bao quanh. Dưới chân các dãy núi đá, dòng suối Giàng uốn lượn, chảy về dòng Trừng. Người dân quen gọi là suối đầu nguồn nên tên gọi Pác Bó (miệng nguồn) ra đời, gắn với xóm nhỏ của vài chục hộ đồng bào Nùng sinh sống nơi biên viễn. Những ngày đầu ở Pác Bó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt tên cho dòng suối Giàng trong vắt là suối Lênin, đặt tên cho ngọn núi Phja Tào hùng vĩ bên cạnh là núi Các Mác. Người lấy đá tự nhiên kê thành ghế, thành bàn để làm việc.
![]() Đồng bào Cao Bằng tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh tấm vải thổ cẩm, chào mừng Người lên thăm tỉnh Cao Bằng, tháng 2-1961. Ảnh tư liệu. |
Bên suối Lênin, chúng tôi phóng tầm mắt về quả núi phía xa bên tay trái. Chị Vi Thị Hồng Thoa, hướng dẫn viên của Ban Quản lý các di tích Quốc gia đặc biệt tỉnh Cao Bằng giới thiệu: "Từ đỉnh của ngọn núi hất sang phía bên kia thuộc Tịnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc. Còn từ đỉnh núi trở về là thuộc xóm Pác Bó. Từ đây di chuyển hơn một cây số nữa là lên đỉnh núi, đến vị trí cột mốc 108 là sang Trung Quốc”.
Từ chân núi Các Mác, men theo suối Lênin, chúng tôi leo núi tìm về hang Cốc Bó. Đường vào hang có 79 bậc đá dài ngắn khác nhau, tượng trưng cho 79 mùa xuân của Người. Chúng tôi lặng người trước cửa hang Cốc Bó, ngắm nhìn nơi ở, làm việc của Bác năm xưa. Cửa hang hẹp, chỉ một người đi vừa. Ánh sáng từ đó rọi vào hang đủ soi rõ các nhũ đá nhỏ, to tựa như những tấm rèm buông lửng. Hình bóng Bác như vẫn còn đây. Kia là nơi Bác đun nước, rồi đến chiếc giường Bác nằm, kê bằng hai cây gỗ lên những tảng đá. Sâu vào bên trong có hốc đá là nơi Người cất giấu tài liệu. Mọi ánh mắt hướng về nhũ đá mà Bác gia công, tạo hình rồi lấy tên người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản để đặt tên-gọi là tượng Các Mác. Trên vách đá bên phải có bút tích của Người: "Nhất cửu tứ nhất niên nhị nguyệt bát nhật" (tức ngày 8-2-1941), ghi nhớ ngày vào hang ở. Từ hang đá nhỏ giữa núi rừng biên viễn này, những quyết định mang tầm vóc lịch sử đã được hình thành, mở đường cho cách mạng Việt Nam bước sang một chặng đường phát triển mới.
![]() Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó (tỉnh Cao Bằng). Ảnh: NAM GIANG |
![]() Đồng bào dân tộc Tày hát Then tại Km0, Đường Hồ Chí Minh điểm đầu Cao Bằng, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó (tỉnh Cao Bằng). Ảnh: NAM GIANG |
Trò chuyện với đồng chí Đào Văn Mùi, Giám đốc Ban Quản lý các di tích Quốc gia đặc biệt tỉnh Cao Bằng, chúng tôi biết, lúc bấy giờ có rất nhiều dự định về địa điểm để Người chọn về nước, nhưng cuối cùng Người đã chọn Pác Bó làm điểm đặt chân vì nhận định đây là vùng đất hội tụ “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Với địa hình hiểm trở, nằm sát biên giới, rất linh hoạt, thuận lợi cho việc bảo đảm bí mật và rút lui khi cần, làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi.
Là một tỉnh miền núi, có nhiều dân tộc nhưng bà con Cao Bằng lúc bấy giờ đều thống nhất về tư tưởng và hành động, đã có truyền thống đấu tranh từ rất sớm. Ngày 3-2-1930 Đảng ra đời thì chỉ gần 2 tháng sau, ngày 1-4-1930, chi bộ đảng đầu tiên ở Cao Bằng và cũng là chi bộ đầu tiên ở vùng Việt Bắc được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ đầu tiên, phong trào cách mạng ở Cao Bằng ngày càng được củng cố và phát triển mạnh. Từ năm 1936 đến 1939, phong trào đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ở Cao Bằng ngày càng phát triển. Nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng đã nổ ra. So với các vùng biên giới phía Bắc, căn cứ Lục Khu-Pác Bó ở sát biên giới, không những là chỗ đứng chân của Châu ủy Hà Quảng và Tỉnh ủy Cao Bằng mà còn có địa thế thuận lợi cho cách mạng.
“Chính từ nền tảng chính trị vững chắc và truyền thống đấu tranh sớm ấy, Cao Bằng đã trở thành địa bàn được Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tin cậy lựa chọn, tạo điểm tựa quan trọng cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn quyết định”, đồng chí Đào Văn Mùi cho biết.
![]() Đường Hồ Chí Minh điểm đầu Cao Bằng (Km0) đặt tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó (tỉnh Cao Bằng). Ảnh: HOÀNG VIỆT |
Nghĩa đồng bào son sắt
Cao Bằng không chỉ có điều kiện địa thế thuận lợi cho việc duy trì, phát triển phong trào cách mạng mà còn có "hàng rào quần chúng" bảo vệ vững chắc. Trong câu chuyện, mãi sau chúng tôi mới biết chị Vi Thị Hồng Thoa chính là cháu ngoại của cụ Hoàng Thị Khìn, người đã cùng chồng là cụ Nông Quốc Phong trực tiếp đưa cơm, bảo vệ Bác trong những ngày ở Pác Bó. Trên đường dẫn chúng tôi về thăm gia đình cụ Khìn, chị Thoa hỏi: “Các anh về Pác Bó, khi đến các nhà người dân có thấy điểm gì chung không?”. Một phóng viên trong đoàn chúng tôi nhanh ý đáp: “Đó là nhà nào cũng treo cờ Tổ quốc và lập ban thờ Bác Hồ”. Đúng vậy! người dân Pác Bó nhà nào cũng lập ban thờ Bác, ngày lễ, ngày Tết đều thắp hương cung kính. Chị Thoa giải thích thêm: Khi Bác qua đời, người dân đau buồn, đồng loạt mặc bộ quần áo đại tang (vốn chỉ mặc lúc cha, mẹ từ trần), tổ chức lễ truy điệu Bác. Sau lễ truy điệu, gia đình cụ Dương Văn Đình (nơi Bác Hồ thường xuyên qua lại gặp gỡ cán bộ, tuyên truyền cách mạng trong quần chúng Nhân dân thời kỳ 1941-1945) đã lập ban thờ, để tang Bác 3 năm theo phong tục địa phương. Người dân trong xóm nhà nào cũng lập ban thờ Bác để bày tỏ lòng biết ơn công lao trời bể của Người.
![]() Bà Hoàng Thị Phần giới thiệu ống bương để đựng cháo bẹ. Ảnh: ĐỒNG TÂM |
![]() Gia đình bà Hoàng Thị Phần thắp hương tưởng nhớ Bác Hồ. Ảnh: ĐỒNG TÂM |
Bà Hoàng Thị Phần, con dâu cụ Hoàng Thị Khìn kể lại, khi đó dân xóm Pác Bó nghèo lắm, nhiều nhà đứt ăn từng bữa, nhưng tất cả cùng đồng lòng, quyết tâm bảo vệ Bác và cán bộ đi theo cách mạng. Năm đó cụ Khìn đi tiếp tế lương thực cho Bác và đoàn thể, phải dùng những ống bương để đựng cháo bẹ. Khi vào tiếp tế, phải đi bí mật, cụ thường dùng túi nải hay dùng để đi rừng, lấy rau che giấu ống bương. Khi gặp người lạ hoặc lính vào làng, cụ Khìn và đồng bào hay dùng những câu mật lệnh như “gà vào vườn”, “trâu ăn lúa”, “lợn vào vườn”... ai nghe được lại đi truyền tin cho Bác và các cán bộ. Cụ Khìn cũng là người đã vận động chị em trong bản đi học chữ, đóng góp lương thực, bán củi đổi lấy muối nuôi giấu cán bộ.
Trong những ngày ở Pác Bó, Bác Hồ sống giữa vòng tay chở che của đồng bào địa phương. Người dân coi Bác như người nhà, ngày Tết mang quà bánh lên hang, hỏi thăm sức khỏe, lo từng bữa ăn, giấc ngủ, sẵn sàng sẻ chia từ nắm bắp, bát cơm đến tấm chiếu, bộ quần áo. Không ai biết danh tính thật của Người, chỉ gọi một cách thân mật là "Ông Ké" (tức “ông Cụ”), “đồng chí già”, “già Thu”... nhưng ai cũng cảm nhận rõ ở Người một tấm lòng vì dân, vì nước, để rồi từ sự cảm phục ấy, họ tự giác giữ bí mật, bảo vệ cán bộ, coi việc che chở cho cách mạng là việc của chính gia đình mình.
Nhiều lần địch theo dấu vết, kéo quân về Pác Bó lùng sục gắt gao, đồng bào đã tìm mọi cách vượt qua sự kiểm soát của địch, kịp thời lên hang báo động. Nhờ thế mà các cán bộ nhanh chóng rút đi an toàn, mọi dấu vết sinh hoạt được xóa sạch. Nhân dân Pác Bó đã trở thành “hàng rào quần chúng” vững chắc, bảo vệ Bác Hồ và cách mạng trong những ngày đầu trở về Tổ quốc.
Mùa xuân năm 1961, sau 20 năm xa cách, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Núi rừng biên cương hôm ấy như lắng lại trong niềm xúc động thiêng liêng. Trong dòng người nô nức đón Bác có cậu thiếu niên Dương Chí Quân. Ông là một trong những người may mắn được trực tiếp gặp lại “già Thu” và dâng lên Người bó hoa xuân giản dị mà chan chứa nghĩa tình của đồng bào Pác Bó. Ông Quân nhớ lại: Người xúc động ngắm hồi lâu những khuôn mặt người dân đã từng che chở, giúp đỡ cách mạng. Khi được biết bà con không chỉ đùm bọc, cưu mang Bác trong những ngày đầu cách mạng mà hai chục năm qua đi, vẫn giữ gìn, bảo vệ di tích, Bác xúc động lắm. Thăm lại hang Pác Bó, bồi hồi nhớ về những ngày gian khổ, Người làm thơ: “Hai mươi năm trước ở hang này/ Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây/ Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu/ Non sông gấm vóc có ngày nay”.
"Đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mán, đồng bào Mèo cho đến anh em Hoa kiều, người thì giúp chúng tôi ăn, kẻ thì cho chúng tôi áo. Có những đồng bào nhịn ăn, nhịn mặc, bán trâu, bán ruộng để giúp chúng tôi làm cách mệnh. Thật là quý hóa vô cùng..." (Chủ tịch Hồ Chí Minh). |
(còn tiếp)
Nguồn: https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tiep-lua-truyen-thong/nguoi-ve-dem-toi-mua-xuan-bai-1-pac-bo-in-dau-chan-nguoi-1023279









