Xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật ở Hệ 5, Học viện Chính trị hiện nay
Văn hóa thượng tôn pháp luật phản ánh nhận thức, thái độ và trách nhiệm của cán bộ, quân nhân trong thực hiện nhiệm vụ. Trong môi trường đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật đặt ra yêu cầu thống nhất giữa trình độ học vấn, nhận thức pháp lý với ý thức tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật và chuẩn mực nghiên cứu khoa học. Từ thực tiễn Hệ 5, bài viết làm rõ quan niệm, tiêu chí đánh giá, những kết quả và hạn chế trong tổ chức thực hiện, đồng thời đề xuất một số giải pháp phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị.
Ngày 09/11/1946, Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc xác lập nền tảng hiến định của Nhà nước Việt Nam độc lập. Điều 8 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định ngày 09/11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật và giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật trong xã hội. Kỷ niệm 80 năm Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946, việc hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam đặt ra yêu cầu nhìn nhận đầy đủ hơn mối quan hệ giữa hiểu biết pháp luật và hành vi chấp hành. Đối với Hệ 5, Học viện Chính trị, nơi thực hiện nhiệm vụ quản lý, giáo dục, rèn luyện học viên cao học và nghiên cứu sinh, vấn đề này gắn trực tiếp với chất lượng đào tạo cán bộ quân đội, xây dựng nền nếp chính quy và hình thành tác phong nghiên cứu khoa học nghiêm túc.

Quan niệm và tiêu chí đánh giá văn hóa thượng tôn pháp luật ở Hệ 5, Học viện Chính trị
Văn hóa pháp luật là phạm trù phản ánh những giá trị, tri thức, thái độ và phương thức ứng xử của con người đối với pháp luật trong đời sống xã hội. Ý thức thượng tôn pháp luật thể hiện sự nhận thức và thái độ đề cao vị trí, hiệu lực của Hiến pháp, pháp luật trong tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội. Văn hóa thượng tôn pháp luật nhấn mạnh quá trình những nhận thức và giá trị ấy được chuyển hóa thành chuẩn mực hành vi, thói quen tự giác và nền nếp hoạt động của cá nhân, tổ chức. Điểm phân biệt nằm ở mức độ hiện thực hóa nhận thức. Một người hiểu đúng quy định nhưng thường xuyên tìm cách né tránh nghĩa vụ chưa thể được đánh giá là có văn hóa thượng tôn pháp luật ở mức cao. Ngược lại, thái độ chủ động tra cứu quy định, tôn trọng giới hạn thẩm quyền và tự giác sửa chữa sai sót phản ánh sự chuyển biến từ nhận thức sang hành vi. Vì vậy, văn hóa thượng tôn pháp luật phải được xem xét trong sự thống nhất giữa tri thức pháp lý, thái độ tôn trọng pháp luật và thực tiễn chấp hành.
Đối với quân nhân, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội và các quy định của cơ quan, đơn vị có quan hệ chặt chẽ trong điều chỉnh hành vi. Tuy nhiên, cần phân biệt phạm vi và tính chất của từng hệ thống quy định. Pháp luật xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý; điều lệnh, điều lệ, quy chế và mệnh lệnh hợp pháp cụ thể hóa yêu cầu tổ chức, chỉ huy, quản lý và thực hiện nhiệm vụ quân sự. Văn hóa thượng tôn pháp luật trong Quân đội vì thế được biểu hiện thông qua việc chấp hành pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật và thực hiện đúng chức trách, thẩm quyền.
Từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: Văn hóa thượng tôn pháp luật ở Hệ 5, Học viện Chính trị là tổng thể những giá trị, nhận thức, thái độ và chuẩn mực hành vi của cán bộ, học viên được hình thành, củng cố trong quá trình học tập, nghiên cứu, công tác và sinh hoạt; biểu hiện ở sự tôn trọng Hiến pháp, pháp luật, tự giác chấp hành kỷ luật Quân đội, quy chế của Học viện, đề cao trách nhiệm nêu gương, liêm chính khoa học và vận dụng đúng các quy định vào thực hiện nhiệm vụ. Quan niệm này đặt văn hóa thượng tôn pháp luật trong điều kiện cụ thể của một đơn vị quản lý học viên sau đại học. Cán bộ, học viên Hệ 5 có sự khác biệt về chuyên ngành, cấp độ đào tạo, kinh nghiệm công tác và vị trí đảm nhiệm trước khi nhập học. Hoạt động học tập đòi hỏi tính độc lập trong tư duy, khả năng phản biện và sáng tạo khoa học; môi trường quân đội đồng thời yêu cầu chấp hành nghiêm chế độ tổ chức, quản lý và bảo vệ thông tin. Văn hóa thượng tôn pháp luật được hình thành khi người học biết thực hiện đúng trách nhiệm trong cả hai môi trường ấy.
Có thể nhận diện và đánh giá văn hóa thượng tôn pháp luật ở Hệ 5 theo bốn nhóm tiêu chí cơ bản.
Thứ nhất, nhận thức và thái độ đối với pháp luật, kỷ luật. Cán bộ, học viên hiểu những quy định liên quan trực tiếp đến chức trách, nhiệm vụ; nhận thức đúng quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm cá nhân; chủ động tìm hiểu quy định mới và tôn trọng kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Nhận thức cần được đánh giá qua khả năng giải quyết tình huống, thay vì chỉ kiểm tra mức độ ghi nhớ văn bản.
Thứ hai, hành vi tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật và quy chế đào tạo. Biểu hiện ở việc thực hiện nghiêm chế độ học tập, công tác, sinh hoạt; chấp hành quy định về quản lý quân số, sử dụng tài liệu, bảo vệ thông tin; trung thực trong thi, kiểm tra và nghiên cứu khoa học. Mức độ tự giác thể hiện rõ khi cá nhân thực hiện đúng quy định mà không phụ thuộc vào sự nhắc nhở thường xuyên.
Thứ ba, trách nhiệm nêu gương và khả năng tự điều chỉnh hành vi. Cán bộ, đảng viên và học viên có kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy phải thể hiện sự thống nhất giữa lời nói với hành động, giữa yêu cầu đối với tập thể với trách nhiệm của bản thân. Khi phát sinh thiếu sót, thái độ tiếp nhận góp ý, tự phê bình và chủ động khắc phục là những biểu hiện cần được xem xét.

Thứ tư, chất lượng môi trường tổ chức và cơ chế duy trì văn hóa pháp lý. Việc phổ biến quy định phải rõ ràng, áp dụng thống nhất, kiểm tra có căn cứ và xử lý đúng thẩm quyền. Cấp ủy, chỉ huy, cán bộ quản lý và các tổ chức tự quản có trách nhiệm tạo điều kiện để cán bộ, học viên hiểu đúng, thực hiện đúng và phản ánh kịp thời những vướng mắc phát sinh.
Ba nhóm tiêu chí đầu tập trung đánh giá nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân; nhóm thứ tư đánh giá điều kiện tổ chức hình thành và duy trì văn hóa pháp lý. Sự phân biệt này giúp tránh đồng nhất kết quả quản lý của đơn vị với mức độ tự giác của từng cán bộ, học viên.
Thực trạng xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật ở Hệ 5 và những vấn đề đặt ra
Trong năm học 2025 - 2026, Đảng ủy, chỉ huy Hệ 5 đã quan tâm lãnh đạo xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật gắn với nhiệm vụ giáo dục, đào tạo sau đại học. Nền nếp giáo dục chính trị, phổ biến pháp luật, sinh hoạt Ngày Pháp luật được duy trì; công tác quản lý, kiểm tra việc thực hiện chế độ học tập, nghiên cứu và sinh hoạt có chuyển biến tích cực. Phương châm “Trình độ học vấn phải tương xứng với văn hóa, kỷ luật” được xác định trong lãnh đạo xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, phản ánh yêu cầu gắn phát triển năng lực trí tuệ với rèn luyện phẩm chất, tác phong của cán bộ quân đội. Kết quả tổng kết năm học cho thấy nền nếp chấp hành quy chế đào tạo, tổ chức học tập và nghiên cứu khoa học cơ bản được duy trì nghiêm túc. Đảng ủy Hệ đánh giá 100% học viên chấp hành quy chế giáo dục, đào tạo; hoạt động kiểm tra, giám sát và quản lý, rèn luyện học viên được triển khai theo kế hoạch. Việc kết hợp giáo dục pháp luật với xây dựng chính quy đã tạo cơ sở để cán bộ, học viên nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.
Tuy nhiên, ý thức tự giác của một số học viên trong chấp hành chế độ, quy định có thời điểm chưa nghiêm, nhất là việc sử dụng thời gian tự học, tự nghiên cứu và tham gia sinh hoạt tập trung. Trong năm học có một trường hợp vi phạm kỷ luật do sử dụng điện thoại trong giờ tự ôn trên giảng đường, phải xử lý theo quy định. Vụ việc cho thấy yêu cầu chấp hành kỷ luật vẫn cần được củng cố ở những hoạt động phụ thuộc nhiều vào tính chủ động, tự quản của học viên. Cùng với đó, công tác kiểm tra, đôn đốc của một số cấp ủy, cán bộ kiêm chức có lúc chưa chặt chẽ, kịp thời.
Những hạn chế trên đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật theo hướng hình thành thói quen tự giác, trách nhiệm nêu gương và khả năng tự kiểm soát hành vi. Hoạt động quản lý cần tăng tính chủ động trong hướng dẫn, kiểm tra, đồng thời gắn việc chấp hành quy định với yêu cầu liêm chính khoa học, bảo vệ thông tin và sử dụng công nghệ số có trách nhiệm. Đây là những vấn đề trực tiếp liên quan đến chất lượng xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật trong môi trường đào tạo sau đại học.
Một số giải pháp xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật ở Hệ 5, Học viện Chính trị hiện nay
Một là, nâng cao trách nhiệm lãnh đạo của cấp ủy, chỉ huy và đội ngũ cán bộ quản lý. Đảng ủy, chỉ huy Hệ cần tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật trong nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch công tác và hoạt động quản lý, giáo dục, rèn luyện học viên. Nội dung lãnh đạo phải gắn với những biểu hiện có thể kiểm tra trong thực hiện quy chế đào tạo, nền nếp chính quy, liêm chính nghiên cứu và bảo vệ thông tin. Nghị quyết lãnh đạo năm học 2026 - 2027 xác định hai khâu đột phá về nâng cao chất lượng tự học, tự nghiên cứu gắn với sản phẩm cụ thể và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số gắn với liêm chính khoa học. Đây là cơ sở để lồng ghép yêu cầu xây dựng văn hóa pháp lý vào nhiệm vụ chính trị trung tâm. Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm của cán bộ Hệ, cán bộ lớp trong quản lý, kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh những biểu hiện thiếu tự giác.
Hai là, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục pháp luật phù hợp với đặc điểm đào tạo sau đại học. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cần tập trung vào những quy định liên quan trực tiếp đến trách nhiệm quân nhân, quy chế đào tạo, liêm chính học thuật, quản lý tài liệu và bảo vệ thông tin. Chú trọng phương pháp phân tích tình huống, giúp học viên nhận diện căn cứ pháp lý, phạm vi trách nhiệm và lựa chọn cách xử lý phù hợp. Trong nghiên cứu khoa học, có thể sử dụng những tình huống về khai thác số liệu từ cơ quan, đơn vị; trích dẫn văn bản pháp luật; sử dụng tài liệu nội bộ hoặc công cụ trí tuệ nhân tạo. Những nội dung này phù hợp với đặc điểm tư duy và yêu cầu chuyên môn của học viên cao học, nghiên cứu sinh. Hiệu quả giáo dục cần được xem xét qua khả năng vận dụng quy định trong thực tiễn, thay vì chỉ căn cứ vào số buổi phổ biến.
.png)
Ba là, phát huy tính tự giác, trách nhiệm nêu gương và vai trò tự quản của cán bộ, học viên. Xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật phải bắt đầu từ việc thực hiện nghiêm những quy định gắn với hoạt động hằng ngày. Đối với học viên sau đại học, cần chú trọng chấp hành chế độ tự học, tự nghiên cứu, thực hiện đúng tiến độ đào tạo và giữ gìn nền nếp sinh hoạt. Việc sử dụng điện thoại, thiết bị số phải đúng quy định về thời gian, địa điểm và mục đích. Tính tự giác cần được thể hiện rõ trong những hoạt động không có sự giám sát trực tiếp. Cán bộ, đảng viên phải nêu gương trong chấp hành quy định chung, thực hiện trách nhiệm học tập và ứng xử với tập thể. Các tổ chức tự quản chủ động nắm tình hình, nhắc nhở, phát hiện, phản ánh kịp thời những biểu hiện chưa phù hợp. Việc đánh giá rèn luyện phải căn cứ vào hành vi thực tế, bảo đảm công bằng và khuyến khích mỗi học viên tự nhận diện, khắc phục hạn chế.
Bốn là, gắn xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật với liêm chính khoa học và trách nhiệm trong môi trường số. Hoạt động nghiên cứu khoa học đòi hỏi người học trung thực trong thu thập, xử lý dữ liệu, sử dụng nguồn và công bố kết quả. Tài liệu kế thừa phải được dẫn đúng xuất xứ; dữ liệu giả định phải được xác định rõ tính chất; các nhận định khoa học cần có chứng cứ phù hợp. Đây là những chuẩn mực liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của cán bộ, học viên đối với sự thật và sản phẩm nghiên cứu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo phải tuân thủ quy định về an toàn, bảo mật và quyền sử dụng tài liệu. Công cụ số có thể hỗ trợ hoạt động học thuật nhưng trách nhiệm kiểm chứng thông tin vẫn thuộc về người nghiên cứu. Hệ 5 cần phối hợp với các cơ quan chức năng, khoa giáo viên và cán bộ hướng dẫn khoa học để tăng cường giáo dục liêm chính nghiên cứu, hướng dẫn sử dụng công nghệ đúng quy định, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số trong Học viện.
Năm là, tăng cường kiểm tra, đánh giá thực chất và kịp thời khắc phục hạn chế. Công tác kiểm tra cần tập trung vào những biểu hiện cụ thể trong chấp hành nền nếp, sử dụng thời gian tự học, thực hiện quy chế đào tạo và trách nhiệm nghiên cứu khoa học. Khi phát hiện thiếu sót, phải xác định đúng hành vi, nguyên nhân và trách nhiệm; phân biệt sai sót do chưa hiểu đầy đủ quy định với hành vi cố ý vi phạm. Việc xử lý phải đúng thẩm quyền, trình tự, bảo đảm tính nghiêm minh và tác dụng giáo dục. Kết quả kiểm tra, đánh giá cần được sử dụng để điều chỉnh nội dung giáo dục, phương pháp quản lý và hoạt động tự quản của học viên. Chú trọng phòng ngừa vi phạm, duy trì sự thống nhất trong thực hiện quy định và tạo điều kiện để cán bộ, học viên chủ động sửa chữa thiếu sót. Chất lượng xây dựng văn hóa pháp lý cần được đánh giá qua sự chuyển biến của hành vi chấp hành và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
Kết luận
Xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật ở Hệ 5, Học viện Chính trị đòi hỏi sự thống nhất giữa nhận thức pháp lý, thái độ tôn trọng pháp luật và hành vi tự giác chấp hành của cán bộ, học viên. Thực tiễn năm học 2025 - 2026 cho thấy đơn vị đã duy trì nền nếp giáo dục pháp luật, xây dựng chính quy và quản lý kỷ luật; đồng thời còn những hạn chế cần khắc phục trong ý thức tự giác của một số học viên và công tác tổ chức thực hiện. Phát huy ý nghĩa Ngày Pháp luật Việt Nam 09/11 cần gắn với phương châm “Trình độ học vấn phải tương xứng với văn hóa, kỷ luật”, đề cao trách nhiệm nêu gương, liêm chính học thuật và ý thức tự quản trong học tập, nghiên cứu. Khi những yêu cầu ấy được thực hiện thường xuyên, văn hóa thượng tôn pháp luật sẽ có cơ sở hình thành từ chính nền nếp và chất lượng thực hiện nhiệm vụ của mỗi cán bộ, học viên.
Thượng tá VŨ TRƯỜNG DUY - Trung tá LÊ ĐỨC NINH
Hệ 5, Học viện Chính trị
Tài liệu tham khảo
- Quốc hội (1946), Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946.
- Quốc hội (2012), Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, số 14/2012/QH13, ngày 20/6/2012.
- Đảng ủy Hệ 5, Học viện Chính trị (2026), Nghị quyết số 27-NQ/ĐU ngày 12/6/2026 về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2026 - 2027.
- Hệ 5, Học viện Chính trị (2026), Báo cáo số 32/BC-H5 ngày 17/6/2026 về tổng kết năm học 2025 - 2026 và phương hướng, nhiệm vụ năm học 2026 - 2027.



