Anh hùng Phan Tư - Người phá thác đá trên sông Nậm Na
Anh hùng Phan Tư, sinh năm 1930. Năm 20 tuổi, Phan Tư xung phong lên đường nhập ngũ và được biên chế vào Trung đội 5, Đại đội 124, Tiểu đoàn 555 thuộc Cục Công binh. Đơn vị được giao nhiệm vụ phá thác trên sông Nậm Na, thượng nguồn Sông Đà để thuyền bè đi lại tiếp tế cho Điện Biên Phủ.
Sông Nậm Na có 90 thác đá rải đều suốt chiều dài 120 km, trong đó có 21 thác đá dựng đứng nguy hiểm thuyền bè khó vượt qua. Lệnh của cấp trên trong vòng 7 ngày phải phá xong 21 thác đá khó khăn nhất. Muốn phá thác đá chỉ có cách là dùng bộc phá. Nhưng thời kỳ đó không có 1 tấc ni lông thì lấy gì gói thuốc nổ. Trung đội trưởng Hoàng Viết Sâm thức mấy đêm ròng vẫn chưa nghĩ ra cách đưa bộc phá xuống chân thác. Nước lớn, chảy xiết, trong khi đó, ngoài thuốc nổ và dây cháy chậm ra thì không có thêm bất cứ một vật gì khác để gói thuốc nổ mà không để nó ngấm nước.

Khi chưa có kế sách gì để khuất phục dòng thác dữ thì ngày Tết về. Đơn vị tổ chức ăn Tết trước ngay trên chiến hào và phát động hiến kế. Nhưng đã qua 3 ngày đêm mà không ai nghĩ ra. Sáng ngày mồng 5 Tết, ngồi trên miệng hố chiến đấu, Phan Tư cầm chiếc bánh chưng, quà của hậu phương gửi đến. Anh vừa bóc bánh chưng ăn một ý nghĩ lóe lên. Phải rồi gói bộc phá như gói bánh chưng ở đây lá chuối rừng nhiều vô kể, trúc, giang, mai, vầu làm lạt bạt ngàn, càng gói chặt sức công phá càng lớn. Lập tức Phan Tư trình bày ý kiến và được mọi người tán thành. Cả Trung đội công binh anh lên báo cáo với Trung đội trưởng Hoàng Văn Sâm, sáng kiến đó được cấp trên cho thực hiện. Cả tiểu đội đi chặt lá chuối về hơ qua lửa cho dẻo, chặt trúc, giang, mai chẻ để gói.
Nhưng khi dùi lỗ đặt giây cháy chậm vào làm sao cho nước không thấm vào được? Phan Tư lại có sáng kiến dùng cơm nếp nghiền kỹ trát lại thay sáp và nhựa đường chống nước thấm vào thuốc nổ. Trưa ngày mồng 7 Tết, sau lễ khai hạ, tiểu đội gói xong một quả bộc phá và đem ra sông thử. Các đồng chí chính ủy Trung đoàn, Tiểu đoàn trưởng đều có mặt, Phan Tư, Vương Đình Đạo, Nguyễn Thành Am trong tổ “tam giao” xung phong nổ quả đầu tiên phá thác hang 1, thác hung dữ nhất. Đoạn sông này sâu 4 mét, một khối đá khổng lồ chắn ngang dòng chính, dòng sông chỉ còn lại một khe hở chưa đầy 2 mét, nước chảy xiết thuyền bè không đi qua lại được. Mỗi lần muốn qua được phải dỡ hàng hóa xuống khiêng thuyền qua mới vượt được.
Ra đến nơi, Phan Tư xung phong lặn xuống kiểm tra cụ thể chỗ đặt bộc phá, xác định điểm nổ. Anh lặn đến 4 lần, mỗi lần lặn xuống chỉ cho phép kéo dài 40 giây vì đó cũng là thời gian bộ phá phát nổ. Anh nghĩ: Bộc phá nổ thì mình cũng hy sinh, dẫu có hy sinh nhưng phá được thác là hoàn thành nhiệm vụ. Anh vui vẻ ôm bộc phá xuống. Vương Đình Mạo đứng trên cầm sào dòng xuống để làm điểm tựa. Nguyễn Thành Am châm ngòi đốt dây cháy chậm. Khi lặn xuống nước chảy xiết, giây cháy chậm phun lửa nhưng anh vẫn bình tĩnh đặt khối nổ đúng chỗ. Anh dùng chân đạp mạnh vào khối đá bắn mình ra xa. Một tia chớp lóe lên, một tiếng nổ long trời lở đất cùng với nước và muôn nghìn mảnh đá to bắn tung lên che kín cả một khúc sông. Đồng đội đứng trên bờ không ai bảo ai đều cúi đầu mặc niệm xem như anh đã hy sinh. Một lúc sau, phía dưới hạ lưu, cách thác 500m, anh tỉnh lại bị sóng xô vào bờ. Mọi người nhìn thấy, reo ầm đổ xô xuống sông dìu anh vào bờ rồi đưa đi cấp cứu.
Sáng kiến dùng lá chuối rừng gói bộc phá và tấm gương dũng cảm của chàng trai quê lúa lập tức được phổ biến trong toàn quân. Chỉ trong 7 ngày toàn đơn vị đã phá xong 90 thác đá, thuyền bè đi lại dễ dàng. Trước đây, một chuyến vận chuyển trên sông Nậm Na phải 3 người, thời gian hàng tháng trời. Nay một chuyến chỉ cần một người với số lượng hàng gấp đôi và chỉ cần một ngày là tới đích, góp phần to lớn vào chiến thắng Điện Biên Phủ.
Tháng 5/1956, Phan Tư được Quốc hội, Chính phủ tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau năm 1954, hòa bình lập lại Phan Tư lại được cử vào phục vụ mở đường Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Điện Biên Phủ, nơi nào khó khăn anh đều có mặt và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, cấp trên giao phó. Năm 1986, sức khỏe yếu, Phan Tư được nghỉ hưu với quân hàm Đại tá. Năm 1989, có chủ trương thành lập Hội Cựu chiến binh, Phan Tư được Huyện ủy giao nhiệm vụ đứng ra thành lập Hội Cựu chiến binh huyện.
Với chiếc xe đạp cũ kỹ, ngày ngày anh đi từ xã này qua xã khác vận động được 120 đồng chí sĩ quan viết đơn xung phong vào Hội Cựu chiến binh. Năm 1990, đại hội Hội Cựu chiến binh huyện lần thứ nhất, Phan Tư được bầu vào Ban chấp hành và giữ chức Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Yên Thành. Dù ở cương vị nào, anh cũng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao xứng đáng là “Người lính Cụ Hồ” và tấm huy hiệu chiến sĩ Điện Biên Phủ lấp lánh mà ngày nào anh cũng đeo trên ngực.
GIANG ĐÌNH



