A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản
Kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Cục Chính trị Quân khu 4 (16/12/1945 - 16/12/2020))

Cục Chính trị Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)

Ngày 3 tháng 6 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 017-SL thành lập các quân khu: Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc, Tả Ngạn, Hữu Ngạn và Quân khu 4. Theo sắc lệnh, phạm vi và địa giới của các quân khu do Bộ Quốc phòng quy định cụ thể. Quân khu 4 gồm 3 tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và huyện Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị (sau này thành Đặc khu Vĩnh Linh).

 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước oanh liệt của dân tộc, Quân khu 4 là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam và Lào, cùng một lúc thực hiện 4 nhiệm vụ: Phòng thủ Quân khu; bảo vệ miền Bắc; trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên chiến trường Trị Thiên; làm nhiệm vụ quốc tế đối với nước bạn Lào. Trên 3 chiến trường: Chiến trường A (Quân khu); Chiến trường B (Trị Thiên); Chiến trường C (Lào). Quân khu 4 trở thành nơi trực tiếp đối đầu giữa lực lượng Cách mạng và phản cách mạng, giữa chế độ xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa thực dân kiểu mới, là một trong các chiến trường gian khổ, ác liệt nhất của cả nước.

Đoàn Văn công Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Ảnh: TƯ LIỆU

Giai đoạn 1954 - 1960 kế thừa, phát huy những kinh nghiệm trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Phòng Chính trị luôn được củng cố, kiện toàn về tổ chức, lực lượng; chủ động, nhạy bén tham mưu cho Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, chỉ đạo, hướng dẫn cơ quan, đơn vị tiến hành công tác đảng, công tác chính trị kịp thời, có hiệu quả, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nổi bật là: Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (ngày 20/7/1954), Phòng Chính trị đã tham mưu cho Quân khu ủy, chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị phối hợp với địa phương, tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị rộng rãi trong cán bộ, chiến sỹ và Nhân dân, nâng cao nhận thức về thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; âm mưu, thủ đoạn nhằm phá hoại hiệp định của kẻ thù; tình hình, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của quân và dân Quân khu; động viên cán bộ, đồng bào, bộ đội Trị Thiên thực hiện tốt nhiệm vụ tập kết ra Bắc, Nhân dân Trị Thiên yên tâm, tin tưởng, kiên quyết đấu tranh đòi địch chấp hành Hiệp định. Các đơn vị lực lượng vũ trang nhanh chóng củng cố tổ chức, lực lượng, làm tốt công tác tư tưởng, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương giữ vững trật tự trị an; triển khai đón tiếp chu đáo cán bộ, bộ đội và đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc; tích cực tham gia Cuộc vận động “Đoàn kết sản xuất ở miền núi, cải cách ruộng đất ở miền xuôi”, tham gia sửa sai, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục phát triển kinh tế. Các đơn vị và Nhân dân giới tuyến kiên trì đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơnevơ.

Trước âm mưu, thủ đoạn phá hoại hiệp định, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử, đàn áp đẫm máu phong trào cách mạng, từng bước thiết lập chế độ thực dân kiểu mới ở miền Nam của Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Phòng Chính trị Quân khu tham mưu cho Quân khu ủy lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sỹ và Nhân dân nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, tình hình nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của Quân khu, chủ trương, đường lối của Đảng. Động viên cán bộ, chiến sỹ và Nhân dân vừa kiên trì đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ, đồng thời tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai. Quán triệt sâu sắc nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 (tháng 1/1959) về nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà. Phương pháp cách mạng là sử dụng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Phòng Chính trị đã kịp thời phối hợp tham mưu cho Quân khu ủy lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang Quân khu nhanh chóng chuyển hướng công tác tư tưởng, công tác tổ chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trọng tâm là nâng cao nhận thức về tình hình nhiệm vụ, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang bảo vệ vững chắc miền Bắc, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường miền Nam và Lào. Đồng thời, Phòng Chính trị chỉ đạo, hướng dẫn cấp uỷ, cơ quan chính trị các cấp coi trọng tổ chức thực hiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp củng cố quốc phòng. Tổ chức học tập và thực hiện điều lệ công tác chính trị trong các nhiệm vụ, hoàn cảnh chiến đấu, xây dựng, công tác. Nhạy bén trong công tác tư tưởng, làm cho bộ đội kiên định, chấp hành nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết chống lại những biểu hiện nhận thức, tư tưởng, hành động sai trái, tiêu cực, bảo vệ lực lượng vũ trang trong sạch về chính trị, vững mạnh về tổ chức.

Cùng với sự phát triển của quân đội và lực lượng vũ trang Quân khu, Cơ quan Chính trị cũng được phát triển. Năm 1962, thực hiện Quyết định số 339/TM6-QĐ ngày 31/7/1962 của Bộ Tổng tham mưu, Sắc lệnh số 27-QP ngày 05/9/1962 của Bộ Quốc phòng về quy định tổ chức chỉ huy và các cơ quan quân khu, theo đó Phòng Chính trị Quân khu 4 được phát triển thành Cục Chính trị Quân khu 4.

Đây là thời kỳ đế quốc Mỹ đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Lực lượng vũ trang Quân khu triển khai thực hiện 4 nhiệm vụ trên cả 3 chiến trường. Trên chiến trường Trị Thiên, trong khó khăn gian khổ Cục Chính trị Quân khu 4 luôn phối hợp chặt chẽ với Cơ quan Chính trị Phân khu Trị Thiên của Quân khu 5, tham mưu, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sỹ và Nhân dân nắm vững đường lối cách mạng của Đảng, không ngừng phát huy bản chất truyền thống tốt đẹp của Trị - Thiên khói lửa, trung dũng, kiên cường trong hoàn cảnh và điều kiện mới; nêu cao ý chí tự lực, tự cường, kiên trì bền bỉ, củng cố phong trào, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, chủ động tiến công địch bằng “hai chân”: Chính trị, quân sự, “Ba mũi”: chính trị, quân sự, binh - địch vận; giữ vững căn cứ địa miền núi, tiến công về đồng bằng, uy hiếp đô thị, góp phần làm phá sản quốc sách ấp chiến lược và chiến tranh đặc biệt của Mỹ - Ngụy. Cục Chính trị tham mưu cho Quân khu ủy chỉ đạo các đơn vị, địa phương (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh) nhanh chóng củng cố tư tưởng và tổ chức, phát triển, chi viện lực lượng cho các chiến trường. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong Lực lượng vũ trang Quân khu nâng cao giác ngộ dân tộc, giác ngộ giai cấp; ra sức học tập chính trị, quân sự, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại; nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu; phát huy mạnh mẽ sức mạnh chiến tranh Nhân dân, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao; tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, đoàn kết quốc tế, triển khai thực hiện nhiệm vụ quốc tế với nước bạn Lào.

Từ năm 1964 đến năm 1968, đế quốc Mỹ liên tục đổ thêm quân vào chiến trường miền Nam, thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và điên cuồng leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân. Yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam và Lào ngày càng cao. Quân khu 4 trở thành huyết mạch giao thông vận tải đảm bảo sự chi viện sức người, sức của từ miền Bắc cho chiến trường miền Nam và Lào; nơi đặt vị trí chỉ huy, hậu cứ, điểm xuất quân của các đơn vị chiến đấu trên chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Vì vậy, Quân khu 4 là nơi không quân, hải quân địch đánh phá ác liệt nhất, dai dẳng nhất, cũng là nơi kẻ địch thường xuyên liều lĩnh thả biệt kích, thám báo, gián điệp vượt giới tuyến trên bộ, trên biển, biên giới, trên không nhằm thực hiện các hoạt động phá hoại trong nội địa. Cùng với đó, chúng đẩy mạnh chiến tranh tâm lý dọc giới tuyến với các luận điệu truyên truyền xuyên tạc, dụ dỗ, lôi kéo, ru ngủ, hù dọa nhằm làm lệch hướng nhận thức, tư tưởng, phá hoại tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của lực lượng vũ trang và Nhân dân.

 

Ban Tuyên huấn Quân khu chụp ảnh lưu niệm với các Anh hùng Trị Thiên tại Đại hội Chiến sĩ thi đua Quân khu Trị Thiên 1972.
Ảnh: TƯ LIỆU

Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và lời dạy của Bác Hồ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”; bám sát tình hình nhiệm vụ của lực lượng vũ trang Quân khu và âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Cục Chính trị Quân khu đã tập trung tham mưu, chỉ đạo tiến hành toàn diện hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Trọng tâm là tham mưu cho Quân khu uỷ phối hợp với các địa phương lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sỹ và Nhân dân Quân khu hiểu rõ nhiệm vụ, đường lối chiến tranh Nhân dân của Đảng, âm mưu, thủ đoạn của Đế quốc Mỹ; xây dựng ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược; thường xuyên kịp thời kiện toàn tổ chức, phát triển lực lượng vũ trang rộng khắp; củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, đáp ứng cùng lúc 4 nhiệm vụ trên 3 chiến trường. Tham mưu mở cuộc vận động xây dựng “chi bộ 4 tốt, “đảng viên 4 tốt”, “đơn vị quyết thắng”, “chi đoàn quyết thắng”.

Thông qua hoạt động tham mưu, chỉ đạo của Cục Chính trị đã thúc đẩy phòng trào thi đua “Đánh địch mà đi”, “Mở đường mà tiến”, “Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, “Phà chờ xe, không để xe chờ Phà”, “Địch phá 1, ta làm 10”, “Tăng từng cân, lấy từng chuyến”, trở thành khẩu hiệu hành động rộng khắp ở các đơn vị, địa phương trên mặt trận đảm bảo giao thông vận tải. Cổ vũ, động viên hàng triệu lượt nam nữ thanh niên Quân khu 4 lên đường nhập ngũ vào các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, làm nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường trong nước và nước bạn Lào. Cùng với đó là hàng trăm ngàn dân quân, tự vệ, các chị, các bô lão thi đua với tiền tuyến, vững tay cày, tay súng, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên khắp các trận địa phòng không, các điểm nút giao thông, các trận địa ven biển.

Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước sang một giai đoạn mới. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bị phá sản, Đế quốc Mỹ đề ra chiến lược mới “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, với công thức: Quân đội ngụy Sài gòn cộng với hỏa lực Mỹ và do cố vấn Mỹ chỉ huy. Mỹ - Ngụy tăng cường lực lượng ở Trị - Thiên, mở rộng chiến tranh xâm lược sang Lào. Mặc dù đã tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, song Đế quốc Mỹ vẫn thường xuyên đánh phá các trọng điểm giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu và dọc hành lang vận chuyển trên đất bạn Lào, nhằm cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Cục Chính trị đã chủ động tham mưu cho Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu phối hợp với cấp ủy, chính quyền các địa phương tiến hành đồng bộ công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách, tiếp tục phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Quân khu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Cục Chính trị triển khai các đợt sinh hoạt chính trị, học tập Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua đó nâng cao nhận thức về tình hình, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của Quân khu, bồi dưỡng tình cảm, niềm tin, ý chí quyết tâm cho cán bộ, chiến sỹ. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ động viên cán bộ, chiến sỹ và Nhân dân phát huy những thắng lợi to lớn trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”; kiên định vững vàng trước những khó khăn thử thách ác liệt, đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, bảo đảm giao thông vận tải thông suốt, chi viện kịp thời và đầy đủ cho các chiến trường. Các đơn vị trên tuyến đầu cùng với Nhân dân Vĩnh Linh phối hợp chặt chẽ với các đơn vị của Bộ, quân và dân Trị Thiên, tiếp tục chiến đấu, phục vụ chiến đấu đánh bại âm mưu, thủ đoạn lấn chiếm của địch trên chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Tham mưu, chỉ đạo các đơn vị tình nguyện ở Lào, giáo dục cho cán bộ, chiến sỹ nhận thức sâu sắc lời dạy của Bác Hồ kính yêu -  “Giúp Nhân dân nước bạn, cũng tức là mình tự giúp mình” và mối quan hệ đoàn kết đặc biệt của cách mạng hai nước, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung là Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, nhận rõ “không chỉ ta giúp bạn, mà bạn cũng giúp ta”, từ đó xây dựng, củng cố tinh thần không quản gian khổ, hy sinh, sát cánh cùng bạn chiến đấu, công tác, không ngừng củng cố, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, góp phần làm cho mối tình Lào - Việt ngày càng thủy chung, son sắt.

Đến năm 1973, trước những thắng lợi to lớn cả về quân sự và chính trị của ta trên các chiến trường, cùng với đó là sự phản đối mạnh mẽ cuộc chiến tranh xâm lược của Đế quốc Mỹ ngay ở chính Nhân dân Mỹ và Nhân dân tiến bộ trên khắp thế giới, buộc Đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Mặc dù buộc phải rút quân khỏi Việt Nam, song với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, Đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục hà hơi, tiếp sức, cung cấp một số lượng lớn tiền của, vũ khí, trang bị cùng với đội ngũ cố vấn quân sự cho chính quyền ngụy Sài Gòn. Thực hiện quyết tâm của Đảng, kiên quyết đập tan chế độ tay sai bù nhìn ở miền Nam, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, quân và dân hai miền Nam, Bắc liên tục mở các chiến dịch lớn, tiến công tiêu diệt địch. Cục Chính trị Quân khu đã kịp thời tham mưu, chỉ đạo đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng cho cán bộ, chiến sỹ ý chí quyết tâm chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà. Trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, Cục Chính trị Quân khu đã tham mưu, chỉ đạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cổ vũ tinh thần thi đua”Một ngày bằng 20 năm”, “Mỗi người làm việc bằng hai” vì đồng bào miền Nam ruột thịt, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, qua đó đã tạo được phong trào hành động cách mạng sôi nổi, rộng khắp, thúc đẩy lực lượng vũ trang Quân khu nỗ lực chiến đấu, phục vụ chiến đấu, không sợ hy sinh, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, cùng quân dân cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đây cũng là thời kỳ Cục Chính trị được củng cố phát triển mạnh mẽ về tổ chức, biên chế với 25 phòng, ban, cơ quan, đơn vị trực thuộc. Đảng bộ Cục Chính trị có 6 liên chi trực thuộc (Tuyên huấn, Cán bộ, Bảo vệ, Địch vận, Chính sách, Hành chính), 22 chi bộ, 10 chi đoàn. Tỉ lệ “chi bộ 4 tốt”, “đảng viên 4 tốt” của Đảng bộ Cục Chính trị thường xuyên đạt trên 80% (riêng năm 1967, chi bộ 4 tốt đạt 90%, đảng viên 4 tốt đạt 91,54%).

BÁO QUÂN  KHU BỐN


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Bình luận, góp ý (0)

Chưa có phản hồi

Bạn cần đăng nhập để bình luận

Xem nhiều
Liên kết Website
Tỷ giá

Quân khu - Quân chủng
Dự báo thời tiết