Kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 – 01/10/2026):Học tập tấm gương đạo đức cách mạng của cụ Huỳnh Thúc Kháng
Cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách cụ Huỳnh Thúc Kháng là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân, bản lĩnh và tinh thần tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Từ một nhà nho yêu nước, Cụ trải qua nhiều chặng đường lịch sử: tham gia phong trào Duy tân, chịu cảnh tù đày, hoạt động nghị trường, báo chí, rồi trực tiếp tham gia chính quyền cách mạng và giữ trọng trách Quyền Chủ tịch nước. Ở bất cứ hoàn cảnh, cương vị nào, Cụ vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục cường quyền, không để giàu sang làm xiêu lòng, nghèo khó làm nản chí, oai vũ làm sờn gan; luôn đặt lợi ích dân tộc và Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

Trước hết, cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại bài học sâu sắc về lòng yêu nước, thương dân và trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc. Từ tư tưởng “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” đến hoạt động báo chí, nghị trường và tham gia chính quyền cách mạng, mục tiêu xuyên suốt của Cụ vẫn là giành độc lập cho dân tộc, đem lại tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Trên Tiếng Dân, Cụ phản ánh những vấn đề thiết thân của quần chúng, đấu tranh chống cường hào, lên tiếng về thuế khóa, ruộng đất, bênh vực nông dân và người lao động nghèo. Đó là hình ảnh một người trí thức luôn gần dân, hiểu dân và đặt quyền lợi chính đáng của Nhân dân làm điểm xuất phát cho hành động.
Cùng với lòng yêu nước, khí tiết và bản lĩnh là những phẩm chất nổi bật trong nhân cách cụ Huỳnh Thúc Kháng. Suốt 13 năm ở Côn Đảo, Cụ không khuất phục trước tù đày, coi đó là môi trường rèn luyện ý chí, tiếp tục học tập, sáng tác và giữ vững tinh thần của người yêu nước. Trên mặt trận báo chí, dù Tiếng Dân chịu sự kiểm duyệt gắt gao, Cụ vẫn kiên trì giữ tiếng nói độc lập, bảo vệ những giá trị của dân tộc và quyền lợi của Nhân dân. Quan niệm của Cụ: “Vì rằng ta không có quyền tự do nói những điều nên nói, mà ta lại có quyền tự do không nói những cái không nên nói” thể hiện rõ lòng tự trọng, sự trung thực và bản lĩnh của người làm báo. Đây cũng là bài học về trách nhiệm của cán bộ trước Đảng, Tổ quốc và Nhân dân: phải có chính kiến, dám bảo vệ điều đúng và không thỏa hiệp với cái sai.
Một giá trị nổi bật khác là tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Trong thời gian giữ trọng trách Quyền Chủ tịch nước, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh góp phần tập hợp các lực lượng yêu nước, đặt lợi ích chung của Tổ quốc lên trên khác biệt về chính kiến, tổ chức hay tầng lớp. Cụ nhận thức rõ rằng khi đất nước vừa giành được độc lập, bên ngoài còn nhiều thế lực đe dọa, sự chia rẽ trong nội bộ sẽ trở thành hiểm họa. Cụ từng cảnh báo: “ngoài ngõ, trộm cướp đang rình rập, nếu trong nhà anh em bất hòa, xâu xé nhau, thì thật là họa lớn cho dân tộc” và “nước nhà độc lập mà trong nước phái nọ đả kích phái kia thật là một điều bất hạnh”. Bài học ấy vẫn nguyên giá trị: phải tôn trọng khác biệt, phát huy điểm tương đồng, củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận và quy tụ mọi lực lượng vì lợi ích chung.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng còn để lại bài học về tinh thần tự học, tư duy độc lập, đổi mới sáng tạo và trách nhiệm của người trí thức. Từ nền học vấn Nho học, Cụ chủ động tiếp nhận tư tưởng mới, tìm hiểu các học thuyết và biến chuyển của thời đại, luôn giữ thái độ khách quan, “đúng nói đúng, sai nói sai”. Những đóng góp về báo chí, văn học, sử học cùng các tư liệu Cụ sưu tầm, ghi chép về phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa cho thấy trách nhiệm của người trí thức không chỉ với hiện tại mà còn với lịch sử và các thế hệ mai sau.
Những giá trị ấy cần được chuyển hóa thành hành động cụ thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần gắn việc học tập, làm theo tấm gương cụ Huỳnh Thúc Kháng với thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đối ngoại và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Trước hết, phải củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, tăng cường đối thoại và xây dựng đồng thuận xã hội. Cán bộ, đảng viên phải thực sự gần dân, trọng dân, hiểu dân, lắng nghe và giải quyết kịp thời những vấn đề chính đáng của Nhân dân; lấy sự hài lòng và lợi ích của Nhân dân làm thước đo hiệu quả công việc. Đồng thời, cần phát huy tinh thần tự lực, tự cường, thi đua lao động, học tập, sản xuất và sáng tạo; khuyến khích mỗi cá nhân, gia đình, doanh nghiệp và tổ chức chủ động đổi mới, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển của quê hương, đất nước.
Phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân. Cần khai thác hiệu quả tiềm năng của từng địa phương; đẩy mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nông nghiệp hiện đại, xanh, bền vững, công nghiệp, thương mại, dịch vụ và kinh tế biển phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, phải chăm lo an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, thực hiện tốt chính sách đối với người có công, gia đình chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn; nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường sống.
Cùng với phát triển kinh tế, chú trọng xây dựng con người Việt Nam có lòng yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm, tri thức, bản lĩnh và khát vọng cống hiến. Đặc biệt, thế hệ trẻ cần được giáo dục về lịch sử, truyền thống dân tộc và trách nhiệm công dân; chủ động học tập, làm chủ khoa học - công nghệ, rèn luyện kỹ năng, nuôi dưỡng khát vọng vươn lên và sẵn sàng đóng góp sức trẻ cho đất nước.
Trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc; chủ động đấu tranh với những âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Tiếp tục nghiên cứu, tuyên truyền và giáo dục về cuộc đời, sự nghiệp, nhân cách cụ Huỳnh Thúc Kháng trong các tầng lớp Nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ. Đối với cán bộ, đảng viên, học tập cụ Huỳnh Thúc Kháng trước hết là tu dưỡng đạo đức, giữ vững bản lĩnh, sống liêm chính, tận tụy, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện xa rời quần chúng. Đối với mỗi người dân, đó là ý thức sống có trách nhiệm, đoàn kết, tự lực, học tập không ngừng và đóng góp bằng khả năng của mình cho cộng đồng và đất nước. Học tập cụ Huỳnh Thúc Kháng không phải chỉ để nhắc lại một tấm gương của lịch sử, mà quan trọng hơn là biến những giá trị Cụ để lại thành hành động. Đó là yêu nước bằng trách nhiệm, thương dân bằng việc làm, giữ vững bản lĩnh trước khó khăn, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặt lợi ích của Tổ quốc, Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.
Phát huy những giá trị ấy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển; đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV và các Nghị quyết chiến lược của Đảng; phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
P.V (Tổng hợp)



