Quân sự - Quốc phòng

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Quy định phân định thẩm quyền điều tra giữa Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân và Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân

Dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự đang được lấy ý kiến với nhiều nội dung quan trọng, trong đó có quy định về nguyên tắc phân định thẩm quyền điều tra giữa Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân và Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân. Từ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và thực tiễn hoạt động tố tụng, Toà án Quân sự khu vực Quân khu 4 phân tích những điểm cần tiếp tục hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.

Về chủ trương, đường lối.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới tại khoản 7 Mục IV quy định “Xây dựng chế định tố tụng Tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá”. Hoạt động xét xử là hoạt động cơ bản của hệ tống Tòa án, theo tinh thần Nghị quyết số 27 khẳng định lấy xét xử là trung tâm tức phải coi trọng hoạt động tố tụng tại Tòa án; tất cả các hoạt động từ giai đoạn xác minh, điều tra, truy tố,  tất cả các hoạt động tố tụng từ việc xác minh trước khởi tố, hoạt động lấy lời khai, thực nghiệm, giám định, đối chất… đều nhằm mục đích phục vụ hoạt động xét xử tại phiên tòa. Tất cả các hoạt động tố tụng khác cần xoay quanh và phục vụ cho hoạt động xét xử Tòa án, vì vậy khi phân định thẩm quyền điều tra giữa Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân và Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân căn cứ vào thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

Quang cảnh phiên tòa xét xử Tòa án Quân sự khu vực Quân khu 4

 

Về cơ sở pháp lý

Theo quy định tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật “Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật”. Để bảo đảm tính thống nhất trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thì xét về mặt nguyên tắc các luật chuyên ngành cần thống nhất không trái với luật gốc và khi tiến hành sửa đổi, bổ sung luật gốc sửa đổi, bổ sung trước và các luật chuyên ngành trên cơ sở đó sửa đổi, bổ sung đảm bảo tính thống nhất.

Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự để bảo đảm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đầy đủ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự như Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Điều 7; Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự tại Điều 18 và Tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra tại Điều 19. Bộ luật Tố tụng hình sự là đạo luật gốc quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án hình sự, các văn bản luật khác trái với nguyên tắc giải quyết chung của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ưu tiên áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự để giải quyết.

Nguyên tắc phân định thẩm quyền

Một là theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật Tố tụng hình sự “Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao”. 

Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

Hoạt động xét xử của Tòa án quân sự dựa trên kết quả điều tra trong Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và truy tố của Viện kiểm sát quân sự, trên cơ sở đó tại phiên tòa Hội đồng xét xử có căn cứ để đánh giá, thẩm định các chứng cứ tài liệu, lời khai của các thành phần tham gia tố tụng để giải quyết vụ án khách quan, toàn diện và đầy đủ.

Theo quy định tại các Điều 272 về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Điều 273 việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 3 về thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự của Thông tư số 03/2023/TT-TANDTC ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân tối cao quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự bao gồm bốn trường hợp:

Trường hợp thứ nhất là Chủ thể của tội phạm là các vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân.

Trường hợp thứ hai là các vụ án có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị.

Trường hợp thứ ba là các vụ án xảy ra trong khu vực do quân đội quản lý.

Trường hợp thứ tư là Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì việc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự dựa vào chủ thể tội phạm; hậu quả của tội phạm; khu vực xảy ra tội phạm và những nội dung này cũng là căn cứ để phân định thẩm quyền của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân nhưng trong quy định tại khoản 2 Điều 17 của Dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định Khi tiến hành điều tra vụ án hình sự quy định tại khoản này mà không liên quan đến bí mật quân sự, không xảy ra trong doanh trại Quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ, nếu phát hiện bị hại hoặc người phạm tội là quân nhân, thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh vẫn tiến hành điều tra nhưng ủy thác cho Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền để tiến hành điều tra đối với các tình tiết có liên quan đến bị hại hoặc người phạm tội là quân nhân” quy định trên dựa trên nguyên tắc Cơ quan nào phát hiện tin báo, tố giác tội phạm trước thì tiến hành điều tra quá trình điều tra nếu phát hiện ra chủ thể thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân thì chỉ tiến hành ủy thác làm căn cứ xác định thẩm quyền điều tra giữa Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân là không phù hợp với nguyên tắc về xác định thẩm quyền dựa vào ba yếu tố là: Chủ thể tội phạm; hậu quả của tội phạm; khu vực xảy ra tội phạm trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành về thẩm quyền thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự và thẩm quyền điều tra. Đồng thời các luật khác khi trái với nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng hình sự với tư cách là đạo luật gốc thì áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự để giải quyết.

Hai là, Dự thảo quy định nếu phát hiện bị hại hoặc người phạm tội là quân nhân, thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh vẫn tiến hành điều tra nhưng ủy thác cho Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền để tiến hành điều tra đối với các tình tiết có liên quan đến bị hại hoặc người phạm tội là quân nhân là không phù hợp bởi vì theo quy định tại Điều 272 của Bộ luật Tố tụng hình sự bởi trong vụ án hình sự bị hại hoặc người phạm tội là quân nhân thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự nên thẩm quyền điều tra thuộc Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân. Quy định về ủy thác điều tra như trong Dự thảo chủ yếu tùy thuộc vào cơ quan ủy thác, tuy nhiên thực tiễn hoạt động ủy thác thời gian qua cho thấy việc ủy thác chủ yếu là các vấn đề đơn giản, rõ ràng, hoạt động ủy thác không làm thay đổi thẩm quyền điều tra vụ án. Đồng thời, việc quy định nhiều cơ quan tiến hành điều tra một vụ án hình sự và việc ủy thác điều tra để tách từng vấn đề nhỏ trong vụ án để điều tra như trong Dự thảo gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án, dễ bỏ lọt tội phạm, hành vi phạm tội.

Việc phân định thẩm quyền điều tra giữa Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân và Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân cần tuân thủ nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tố tụng hình sự và đặc thù hoạt động của Quân đội từ đó để bảo đảm việc giải quyết vụ án hình sự khách quan, toàn diện, đầy đủ góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, kỷ luật Quân đội và đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

VĂN HÙNG - CẨM TÚ

Tòa án Quân sự khu vực Quân khu 4


Các tin khác

Tin đọc nhiều