Anh hùng La Văn Cầu - “Trái tim còn đập còn chiến đấu”
Tôi đến thăm Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân La Văn Cầu tại ngôi nhà trên phố Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội. Ở tuổi 95, ông vẫn minh mẫn, giọng nói chậm rãi nhưng đầy hào sảng khi nhắc lại những năm tháng chiến đấu oanh liệt.
Sinh ra trong một gia đình người Tày ở tỉnh Cao Bằng, tuổi thơ của ông gắn liền với những mất mát, cơ cực dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến. Cha ông bị thực dân Pháp bắt đi phu, bị đánh đập dã man đến kiệt sức rồi qua đời. Mồ côi cha từ nhỏ, La Văn Cầu sớm thấu hiểu nỗi khổ của người dân mất nước.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, được cán bộ cách mạng tuyên truyền, giác ngộ, ông hiểu rằng chỉ có đi theo Đảng, theo cách mạng mới giành được độc lập, tự do cho dân tộc và cuộc sống ấm no cho nhân dân. Năm 1948, La Văn Cầu nhập ngũ vào Đại đội 671, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316.
Nhắc lại những năm tháng chiến đấu ác liệt, ông xúc động kể: “Tôi tham gia hai chiến dịch lớn với 29 trận đánh. Trong đó, trận đánh Đông Khê trong Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950 là trận đánh đáng nhớ nhất, bởi cánh tay phải của tôi đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường”.

Theo lời kể của ông, tháng 9-1950, quân ta mở đợt tiến công cứ điểm Đông Khê. Tổ bộc phá gồm 5 đồng chí do La Văn Cầu làm Tổ trưởng được giao nhiệm vụ phá hàng rào, tiêu diệt lô cốt đầu cầu, mở đường cho bộ đội tiến công.
Trong điều kiện trang bị còn thiếu thốn, bộc phá không đủ, đồng chí La Văn Cầu đã nảy ra sáng kiến tháo mìn của địch để phá hàng rào. Giữa làn đạn dày đặc của địch, nhiều ống bộc phá của ta bị hư hỏng, nhưng tổ bộc phá vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí La Văn Cầu liên tục động viên đồng đội khẩn trương tháo gỡ mìn, phá nốt lớp hàng rào cuối cùng.
Khi tiến công vào lô cốt đầu cầu, tổ trưởng La Văn Cầu ôm khối bộc phá lao lên trước hỏa lực dữ dội của địch với quyết tâm “bằng mọi giá phải hoàn thành nhiệm vụ”. Vừa vượt qua hàng rào phòng ngự, ông bị thương nặng và ngất đi.
Khi tỉnh lại, thấy khối bộc phá vẫn còn nguyên vẹn, đồng chí La Văn Cầu cố gượng dậy tiếp tục xung phong. Tuy nhiên, cánh tay phải bị đạn địch bắn gần đứt lìa, đau đớn dữ dội. Nghĩ đến nhiệm vụ chưa hoàn thành, ông đề nghị đồng đội chặt đứt cánh tay bị thương để tiếp tục chiến đấu.
Anh hùng La Văn Cầu nhớ lại: “Đồng chí Nông Văn Pheo bảo tôi rút xuống để người khác tiếp tục chiến đấu vì biết tôi là con một trong gia đình. Nhưng lúc đó tôi chỉ nghĩ còn sống là còn chiến đấu. Trái tim còn đập thì còn chiến đấu”.
Trong giây phút sinh tử ấy, đồng đội đã giúp anh chặt đứt cánh tay phải. Máu chảy nhiều, đau đớn tột cùng, nhưng người chiến sĩ trẻ vẫn nghiến răng chịu đựng, lấy khăn mùi xoa nhét vào miệng để khỏi cắn phải lưỡi.
Sau đó, bằng cánh tay còn lại, La Văn Cầu tiếp tục ôm khối bộc phá nặng khoảng 12kg lao lên áp sát lô cốt địch, nhét vào lỗ châu mai rồi giật nụ xòe. Một tiếng nổ lớn vang lên, lô cốt đầu cầu bị phá hủy. Anh lại ngất đi giữa chiến trường. Khi tỉnh lại, anh thấy đồng đội đã xông lên chiếm lĩnh trận địa. Trận đánh Đông Khê thắng lợi đã mở đầu cho thành công của Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950, tạo bước chuyển quan trọng của bộ đội ta từ tác chiến du kích sang đánh tập trung, chính quy.
Sau 29 ngày đêm chiến đấu liên tục, Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 toàn thắng. Tấm gương chiến đấu quả cảm của chiến sĩ trẻ La Văn Cầu nhanh chóng lan tỏa khắp toàn quân, trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cổ vũ mạnh mẽ phong trào thi đua giết giặc lập công.
Năm 1952, đồng chí La Văn Cầu được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân khi tuổi đời còn rất trẻ. Sau chiến tranh, ông tiếp tục công tác trong Quân đội. Năm 1996, ông nghỉ hưu với quân hàm đại tá, từng công tác tại Bảo tàng Quân đội, nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Trở về với cuộc sống đời thường, người anh hùng năm xưa vẫn mang trên mình thương tật chiến tranh. Nhưng với ông, cánh tay để lại nơi chiến trường không phải là mất mát, mà là niềm tự hào của một thời tuổi trẻ chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Câu chuyện về Anh hùng La Văn Cầu không chỉ là ký ức về một trận đánh lịch sử, mà còn là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Bộ đội Cụ Hồ. Gần tám thập kỷ đã trôi qua, nhưng câu nói “Trái tim còn đập còn chiến đấu” của ông vẫn lay động, truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ hôm nay và mai sau.
Theo qdnd.vn



