Kỳ 2: Khi “tiếng chiêng” “không còn vang"
Nếu như trước đây, đi đến đâu ở vùng cao A Lưới, thành phố Huế cũng có thể nghe tiếng thoi dệt, tiếng trẻ con tập đánh chiêng, phụ nữ tập múa thì nay nhiều thôn làng đã trở nên trầm lắng …
Trong căn nhà sàn ở thôn Pa Rít – Ka Vin, xã A Lưới 4, nhiều chiếc khung cửi gỗ nằm im lìm nơi góc bếp, không còn “đỏ lửa” thường xuyên như trước. Già làng Lê Văn Trình (71 tuổi) lặng lẽ nhìn những tấm zèng treo trên vách, ánh mắt xa xăm như đang tìm lại tiếng lạch cạch của ngày cũ. Già làng Lê Văn Trình chép miệng: “Ngày trước, cả làng biết dệt, tối đến nhà nào cũng sáng lửa. Giờ con cháu đi học xa, làm công ty ở Huế, Đà Nẵng, miền Nam nhiều lắm. Cái chân tụi nhỏ muốn đi xa hơn cái bản mình rồi. Ít đứa chịu ngồi lại học nghề. Nghề không có người học là “cái hồn” của bản cũng mất thôi…”.
Nỗi lo của già làng Lê Văn Trình cũng là thực tế đầy trăn trở. Thu nhập từ dệt zèng hay làm nhạc cụ chẳng thể giúp bà con trang trải cuộc sống, nhất là khi đem so với tiền công ở phố hay các khu công nghiệp. Đây là nút thắt khiến thanh niên cứ lần lượt rời bản, để lại khoảng trống lớn trong việc truyền nối văn hóa. Chị Hồ Thị Ngợp, thôn Pa Rít – Ka Vin, xã A Lưới 4 nói lời gan ruột: “Mỗi tấm zèng bán được khoảng 500–700 nghìn đồng nhưng phải miệt mài dệt gần một tuần. Trong khi đi làm thời vụ ở miền Nam hoặc làm công thợ, một tháng cũng được 8–9 triệu đồng. Cái bụng mình muốn giữ nghề lắm, nhưng phải có cái ăn cái mặc trước đã, nên thanh niên bỏ đi cũng là cái lẽ thường thôi”.
Từng là nơi rộn ràng nhất bản, nơi mỗi người dân ở đây lúc nào cũng được nghe tiếng chiêng vang mỗi mùa lễ hội, Nhà văn hóa cộng đồng ở một số bản làng vùng cao A Lưới nay trở nên trầm lắng. Những ngày không lễ, không hội, cánh cửa gỗ khép hờ, bộ chiêng treo im lìm trên vách, bụi bặm bám đầy lên những vật dụng vốn một thời là linh hồn của cả làng. Trước đây, mỗi mùa lễ A Riêu Ping, lễ Âr Pục, lễ Aza của đồng bào Pa Cô, Cơ Tu, Tà ôi cả làng cùng tụ họp về. Người già lo nghi lễ, thanh niên đánh chiêng, phụ nữ chuẩn bị cơm rượu, trẻ nhỏ tập múa “Tâng – tung – da – dá” quanh vòng lửa. Lễ hội khi ấy không chỉ là dịp tạ ơn thần linh mà còn là cái dịp để người trong bản nhìn mặt nhau, để người già bày cho người trẻ biết đâu là gốc gác, đâu là lề lối của cha ông.
Thế nhưng hiện nay, ở không ít thôn bản, tiếng chiêng thưa thớt dần, có nơi im hẳn vì chẳng còn mấy người mặn mà. Đáng lo hơn, nhiều thôn không còn những thanh niên biết cầm dùi đánh cho đúng nhịp chiêng hừng hực của bản làng; số người trẻ biết múa “Tâng – tung – da – dá” chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Anh Trần Văn Tý (27 tuổi), thôn Liên Hiệp, xã A Lưới 4, trải lòng: “Ngày trước, cứ đến lễ là cả làng tập chiêng, tập múa cả tuần, vui không sao kể hết. Giờ thanh niên đi làm xa nhiều, lễ hội đến cũng không đủ người để dựng lại cái vòng múa, vòng chiêng cho ra hình ra dáng. Bản thân mình muốn giữ cái lễ của cha ông lắm nhưng lực bất tòng tâm”.
Sự vắng bóng của người trẻ khiến những buổi tụ họp tại nhà Gươl hay nhà văn hóa cộng đồng không còn hơi người đều đặn. Những cuộc họp làng, những đêm tập chiêng – nơi từng là “lớp học văn hóa không bảng đen” giờ thưa vắng hẳn tiếng nói cười. Theo các già làng, khi nhà văn hóa không còn đông vui, việc bày cho con cháu cái phong tục, cái luật tục cũng khó như gieo hạt trên đất đá. Già làng Lê Văn Trình trăn trở: “Nhà văn hóa mà vắng thì làng cũng buồn. Giờ mỗi năm mới tổ chức được một lần. Ít lễ hội, ít tiếng chiêng, con cháu cũng chẳng còn mặn mà với nếp sống của cha ông. Lâu dần, cái làng mình nó lặng lẽ rồi “mất hồn” lúc nào không hay”.
Không chỉ con người rời bản, mà ngay cả cái nơi trú ngụ của linh hồn làng bản cũng đang héo hon đi. Nhiều nhà văn hóa xây dựng đã lâu nay đã xuống cấp... Khi lễ hội thưa vắng, nhà văn hóa cộng đồng lặng im, đó không chỉ là sự thiếu vắng một hoạt động văn hóa, mà là dấu hiệu cảnh báo về sự đứt gãy trong mạch truyền nối giữa các thế hệ. Với đồng bào Tà Ôi – Cơ Tu – Pa Cô, lễ hội là nơi di sản của cha ông thực sự sống lại, được trao truyền và gìn giữ bằng chính sự hiện diện, bằng tiếng nói cười của mỗi người dân trong làng.


Hiện nay, Làng văn hóa các dân tộc của huyện A Lưới (cũ), nay thuộc xã A Lưới 3, dẫu khang trang nhưng lại nằm quá xa trung tâm của nhiều bản làng khác. Đường xá xa xôi - khoảng cách địa lý này đã làm nhạt dần những buổi sinh hoạt chung vốn cần sự đều đặn. Các xã cũng rơi vào thế bị động khi tổ chức, vì phải phụ thuộc vào địa điểm chung, thiếu đi sự linh hoạt về thời gian, nhất là với những nghi lễ vốn phải diễn ra đúng mùa vụ ngay tại mảnh đất của tổ tiên. Bên cạnh đó, nguồn kinh phí eo hẹp khiến quy mô hội làng ngày càng nhỏ lại, làm mất đi cơ hội để bà con giữa các vùng giao lưu, thắt chặt tình nghĩa anh em giữa đại ngàn.
Theo các già làng, nếu không có cách tổ chức linh hoạt, phù hợp với địa hình đồi núi chia cắt, nguy cơ “đứt đoạn” sinh hoạt cộng đồng là rất rõ. Khi bếp lửa chung ít khi đỏ lửa, bà con ít có dịp ngồi lại cùng nhau, việc giữ gìn phong tục, luật tục và bản sắc văn hóa cũng trở nên chông chênh hơn bao giờ hết. Địa bàn rộng, đường xá cách trở không chỉ gây khó cho việc đi lại, mà còn là nút thắt lớn đối với việc giữ gìn mạch sống truyền thống giữa đại ngàn. Đây là thực tế cần được đối diện trực tiếp để tìm ra hướng đi phù hợp, đưa hội làng trở về đúng với nhịp sống của bà con.
Giữa những khoảng lặng ngày một nhiều của không gian văn hóa cộng đồng, ở A Lưới vẫn còn những “ngọn lửa nhỏ” được gìn giữ bằng sự kiên trì và lòng tự trọng văn hóa của một số người dân. Họ không bám trụ với nghề vì thu nhập, mà vì nỗi lo một ngày nào đó bản làng mình sẽ im lìm “tiếng chiêng”, vắng bóng sắc zèng – nơi vốn dĩ là dấu vết định danh của cả một tộc người.

Trong căn nhà sàn nép mình bên sườn núi, Hồ Văn Tốc (64 tuổi), thôn Ar kêu Nhâm, xã A Lưới 2, thành phố Huế vẫn lặng lẽ chuốt từng nan mây, tỉ mẩn đan gùi. Dù cả tháng chẳng mấy người hỏi mua, ông vẫn không bỏ nghề. Ông Tốc chia sẻ: “Bán không được mấy, nhưng làm để người ta biết mình vẫn còn là người Tà Ôi. Mất cái nghề này là cái gốc gác mình cũng mất hết”.
Ở thôn A Đớt, xã A Lưới 4, chị Hồ Thị Chúc vẫn giữ khung cửi trong nhà, dù nhiều lúc phải gác lại niềm riêng để chạy vầy lo cái ăn cái mặc. Mỗi khi có lễ hội hoặc có đoàn khách đến tham quan, chị lại ngồi vào khung, dệt từng tấm zèng như một cách níu giữ những gì xưa cũ. “Nhiều lúc cũng muốn bỏ cho khỏe, nhưng nghĩ tới mẹ, tới bà đã cầm tay chỉ việc cho mình từ hồi nhỏ, mình không nỡ. Cái bụng mình bảo còn dệt được ngày nào thì phải gắng mà giữ lấy ngày đó”, chị Chúc chia sẻ.
Những người như anh Tốc, chị Chúc là một trong những người còn bám trụ, còn nặng lòng với nghề truyền thống qua nhiều đời. Trong vòng xoáy cơm áo gạo tiền ngày càng gắt gao, họ vẫn kiên trì giữ lấy cái nghề đan lát, giữ tiếng chiêng, giữ nếp sống cũ. Tuy nhiên, nếu không có sự chung tay từ dân bản và những cách làm thiết thực từ cái phía chính quyền, những “ngọn lửa” này rất dễ lụi tắt khi đôi tay đã mỏi, đôi chân đã chậm vì tuổi già sức yếu. Già làng Lê Văn Trình nói: “Giữ văn hóa không thể chỉ dựa vào vài người già đã gần đất xa trời này đâu. Tui còn sống thì còn nhắc, còn làm. Nhưng sau này, nếu không có người trẻ chịu ngồi lại nghe tiếng chiêng, học cái cách dệt tấm zèng thì lễ hội rồi cũng theo người già mà về với tổ tiên mất dần thôi”.
Những gì đang diễn ra ở vùng cao A Lưới cho thấy nguy cơ mai một văn hóa truyền thống chẳng còn là chuyện nói cho vui, cho xa xôi nữa, mà nó đang hiện hữu ra ngay trước mắt. Khi tiếng chiêng thưa dần, khung cửi lặng im, lễ hội vắng người, đó không chỉ là mất đi cái đẹp của một tấm zèng, một điệu múa, mà còn là dấu hiệu cho thấy cái sợi dây thắt chặt tình làng nghĩa bản đang nới lỏng dần – cái gốc rễ bền sâu nhất của người vùng cao.
Nếu văn hóa không còn len lỏi trong nếp ăn, nếp ở hằng ngày, những giá trị từng giữ cho cộng đồng khăng khít sẽ dần bị thay thế bởi lối sống ai biết nhà nấy, mạnh ai nấy sống. Khi người trẻ rời làng, người già không còn đủ sức bày vẽ, các lời răn dạy, phong tục, luật tục bao đời cha ông đúc kết sẽ đứng trước nguy cơ gãy đổ, chẳng còn ai nối nhịp. Đáng lo ngại hơn, sự mai một văn hóa không chỉ làm nhạt đi bản sắc mà còn động chạm trực tiếp đến cái gốc của việc quản lý, điều hành ở cơ sở. Ở những địa bàn dân cư thưa thớt, nhà cách nhau cái dốc, cái đèo và còn nhiều khó khăn như A Lưới, văn hóa truyền thống chính là “sợi dây mềm” buộc chặt tình nghĩa giữa chính quyền với Nhân dân. Khi sợi dây này mỏng đi, lỏng dần, việc vận động, tuyên truyền, để bà con cùng nghe, cùng làm theo cái đúng, cái tốt cũng trở nên khó khăn hơn.
Thực tế đó cho thấy, việc giữ gìn văn hóa không thể cứ mãi làm theo kiểu phong trào, đánh trống bỏ dùi hay chỉ trông chờ vào tấm lòng của vài ba người già... Nếu không có cách làm thật, sát với cái chân, cái tay của bà con vùng cao, nhiều giá trị đặc sắc của đồng bào Tà Ôi – Cơ Tu – Pa Cô sẽ dần trôi tuột vào quên lãng, chỉ còn nằm im lìm trong sách vở hoặc các chương trình biểu diễn mang tính hình thức. Vì vậy, tìm ra những giải pháp thấu tình đạt lý, bền vững như cây rừng không chỉ là mong mỏi của bà con mà còn là việc phải làm ngay, làm quyết liệt của các cấp, các ngành lúc này.
Bài ảnh: HỒ LĨNH – HOÀNG TRUNG – HỒ DÓI
Kỳ 3: Để “tiếng chiêng” không lạc giữa đại ngàn



